06:23 PM 28/07/2020  | 

Y học là lĩnh vực rất quan trọng đối với đời sống, sức khỏe con người. Y học đã giúp con người cải thiện sức khỏe và điều trị được nhiều căn bệnh. Hiểu được vai trò, ý nghĩa của y học nên các bậc đế vương ngày xưa thường chọn những người có y thuật giỏi để chăm sóc sức khỏe cho mình.

Ở nước ta, từ triều Lý đã lập Ti Thái y; triều Trần, Hậu Lê có Viện Thái y để chăm sóc sức khỏe cho vua, hoàng tộc, quan lại và chuyên trách về y tế. Đến triều Nguyễn, vua Gia Long cho đặt Thái y viện từ khi còn xưng vương. Theo Đại Nam thực lục, tháng 10 năm 1790, ông cho đặt Thái y viện, sai thuộc nội Cai đội Nguyễn Thận kiêm quản. Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết, ban đầu, Thái y viện được xây dựng ở phường Dưỡng Sinh trong Kinh thành Huế; triều Minh Mệnh, viện dời về phía đông Duyệt Thị đường trong Tử Cấm thành.

Thái y viện triều Nguyễn là cơ quan chuyên trách chăm sóc sức khỏe cho vua, hoàng tộc, hậu cung, quan lại trong triều đình và quản lí các hoạt động y tế của cả nước. Thái y viện có nhiệm vụ “phân biệt hư thực, âm dương và phép gốc ngọn, sau trước, những sự có quan hệ đến thuốc thang[1].

Năm 1802,vua Gia Long cho đặt Chánh y, Phó y nhưng không có số người nhất định. Năm Gia Long thứ 4 (1805), nhà vua chuẩn định phẩm hàm cho quan viên trong Thái y viện “Thái y viện Ngự y Chánh ngũ phẩm, Ngự y phó Tòng ngũ phẩm, Thái y viện Y chánh Tòng lục phẩm, Thái y viện Y phó Tòng thất phẩm, Y viện Tòng bát phẩm[2].

Sau đó, vua Gia Long lại chia ban, cấp lương tháng cho thuộc viên làm việc trong viện. Theo đó, thuộc viên ở viện được phân thành 05 ban: “Thái y viện cùng Y sinh ngoại khoa chia làm năm ban: một ban làm việc, bốn ban nghỉ, ở ban mỗi tháng được cấp gạo lương mỗi ban 30 phương[3]. Các ngự y được chi cấp lương tháng như sau: “Ngự y chánh tiền 5 quan, gạo 4 phương, Ngự y phó tiền 4 quan, gạo 3 phương[4].

Nhìn chung, dưới triều vua Gia Long, cơ cấu tổ chức của Thái y viện còn rất đơn giản. Năm 1820, vua Minh Mệnh lên ngôi đã dần hoàn thiện cơ cấu tổ chức, nhân sự, định viên ngạch, phẩm hàm cho Thái y viện. Trong đó “Chánh ngũ phẩm Ngự y chánh 1 người, Tòng ngũ phẩm Ngự y phó 2 người, Chánh thất phẩm Y chánh 2 người, Tòng thất phẩm Y chánh 2 người, Chánh bát phẩm Y chánh 10 người, Tòng bát phẩm Y phó 10 người, Chánh cửu phẩm Y sinh 12 người, Tòng cửu phẩm Y sinh 30 người; ngoại khoa Chánh bát phẩm Y chánh 2 người, Tòng bát phẩm Y phó 2 người, Tòng cửu phẩm Y sinh 16 người. Tất cả gồm 89 người đều cho thực thụ. Chánh bát phẩm Y chánh trở lên 19 người, cấp bổng theo phẩm trật[5].

Như vậy, Đại Nam thực lục đã ghi chép tương đối rõ về cơ cấu nhân sự thuộc Thái y viện năm đầu triều Minh Mệnh nhưng danh tính, phẩm hàm của các thuộc viên lại không được ghi đầy đủ.

Tuy nhiên, khi khảo sát sử liệu Châu bản triều Nguyễn thì các thông tin cơ bản, ban đầu về thuộc viên Thái y viện phần nào đã được sáng tỏ. Trong nguồn sử liệu này còn lưu lại một Châu bản kê khai danh sách tên tuổi, quê quán, thời gian bắt đầu vào làm việc của các thuộc viên Thái y viện năm Minh Mệnh thứ nhất (1820)[6]. Danh sách bao gồm:

1.    Đoàn Văn Hòa, 60 tuổi, xã An Truyền, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
2.    Nguyễn Đăng Long, 51 tuổi, xã Đức Bưu, tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
3.    Lê Quang Đạm, 52 tuổi, xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
4.    Lê Quang Giai, 66 tuổi, xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
5.    Vũ Doãn Tuấn, 50 tuổi, xã Hành Phổ, tổng Hành Phổ, huyện Phong Lộc, phủ Quảng Bình.
6.    Trần Văn Diên, 54 tuổi, phường khách hộ Thành Trung, tổng An Thành, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.
7.    Nguyễn Văn Sách, 51 tuổi, xã Lễ Tuyền, tổng An Cư, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong.
8.    Nguyễn Tâm Cư, 48 tuổi, xã Hương Cần, tổng Đông Lâm, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.
9.    Nguyễn Văn Đường, 49 tuổi, xã La Miên, tổng Đường Hoa, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
10.    Lê Phước Thụ, 44 tuổi, xã La Miên, tổng Đường Hoa, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
11.    Mai Phước Thạc, 67 tuổi, xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
12.    Trần Duy Phù, 57 tuổi, xã Phước Linh, tổng Đường Hoa, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
13.    Hoàng Đức Hạ, 31 tuổi, xã An Xuân, tổng An Thành, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.
14.    Lê QuangQuận,66 tuổi, xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
15.    Hoàng Tăng Thiện, 53 tuổi, xã Cổ Lão, tổng Đông Lâm, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.
16.    Đặng Văn Giảng, 51 tuổi, xã Diễm Sơn, tổng An Thái, huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn.
17.    Nguyễn Văn Thược, 58 tuổi, giáp Tây, xã Thế Chí, tổng Phú Ốc, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.
18.    Nguyễn Đăng Sơn, 59 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
19.    Nguyễn Văn Lệ, 42 tuổi, xã La Miên, tổng Đường Hoa, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
20.    Hồ Công Phan, 55 tuổi, xã Hương Triền, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
21.    Trần Duy Huân, 44 tuổi, xã Phước Linh, tổng Đường Hoa, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
22.    Nguyễn Văn Nhuận, 49 tuổi, xã Mỹ Xá, tổng An Thành, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.
23.    Vũ Quang Ứng, 42 tuổi, giáp Đông, xã Nam Phổ, tổng Dương Nỗ, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
24.    Nguyễn Bá Dung, 43 tuổi, xã An Hòa, tổng An Hòa, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
25.    Trần Hữu Tuấn, 38 tuổi, xã Phước Linh, tổng Đường Hoa, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
26.    Nguyễn Quang Vĩnh, 30 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
27.    Hoàng Tăng Từ, 42 tuổi, xã Cổ Lão, tổng Đông Lâm, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.
28.    Nguyễn Đăng Thị, 54 tuổi, xã An Hòa, tổng An Hòa, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
29.    Nguyễn Công Thục, 45 tuổi, xã Thạch Bồng Hạ, tổng Thạch Bồng, huyện Phong Lộc, phủ Quảng Bình.
30.    Nguyễn Hữu Dung, 42 tuổi, xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
31.    Nguyễn Tất Hy, 30 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
32.    Nguyễn Văn Nghiễm, 40 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
33.    Trần Văn Nhàn, 40 tuổi, ấp Xuân An, chợ Dinh, tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
34.    Nguyễn Tất Cát, 30 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
35.    Hồ Phúc Nghĩa, 41 tuổi, thôn Ngọc Sa, tổng Phú An Thượng, thuộc Phú Châu, phủ Điện Bàn.
36.    Lê Văn Đạo, 43 tuổi, xã Dương Xuân, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
37.    Lê Văn Ý, 33 tuổi, xã Tùng Luật, tổng Minh Lương, huyện Minh Linh, phủ Quảng Bình.
38.    Đỗ Văn Diệu, 48 tuổi, xã Nghi Giang, tổng Diêm Trường, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
39.    Hồ Công Hoa, 58 tuổi, xã Hương Triền, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
40.    Lê Quang Chung, 40 tuổi, xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
41.    Nguyễn VănTiêu, 40 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
42.    Trần Quang Tô, 39 tuổi, xã Hà Cảng, tổng Phù Lê, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.
43.    Trần Duy Lễ, 39 tuổi, xã Phước Linh, tổng Đường Hoa, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
44.    Đoàn Đức Quang,44 tuổi, phường Mỹ Toàn, tổng Diêm Trường, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
45.    Trần Văn Sinh, 43 tuổi, phường khách hộ Thành Trung, tổng An Thành, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.
46.    Đoàn Văn Nhiêu, 33 tuổi, xã An Truyền, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
47.    Lê Văn Chỉ, 36 tuổi, xã Phú Xuân, tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
48.    Nguyễn Đăng Đàm, 33 tuổi, xã Đức Bưu, tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
49.    Đoàn Văn Diệu, 35 tuổi, xã An Truyền, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
50.    Lê Quang Thành, 46 tuổi, xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
51.    Hồ Đắc Minh, 34 tuổi, xã An Truyền, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
52.    Hồ Đắc Hoa, 26 tuổi, xã An Truyền, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
53.    Đỗ Đăng An, 32 tuổi, phường khách hộ Trúc Đăng, tổng An Thư, huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong.
54.    Trần Công Kính, 33 tuổi, xã Tiên Non, tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
55.    Trần Gia Tảo, 42 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
56.    Trần Văn Phương, 32 tuổi, xã Vĩnh Hòa, tổng An Đôn, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong.
57.    Bùi Xuân Bân, 32 tuổi, giáp Trung, xã Nam Phổ, tổng Dương Nỗ, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
58.    Mai Văn Uyên, 31 tuổi, xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
59.    Lê Quang Chiêu, 32 tuổi, xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
60.    Đặng Văn Chức, 25 tuổi, giáp Đông, xã Bác Vọng, tổng Phú Ốc, huyện Quảng Điền, phủ Triệu Phong.
61.    Lê Văn Hộ, 30 tuổi, xã La Khê, tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
62.    Hồ Văn Chi, 45 tuổi, xã An Truyền, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
63.    Nguyễn Tất Thiệu, 28 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
64.    Nguyễn Ngọc Phong, 27 tuổi, phường khách hộ Hà Trữ, tổngDiêm Trường, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
65.    Hồ Văn Hòa, 29 tuổi, xã Hương Triền, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
66.    Nguyễn Tiến Bảo, 49 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
67.    Phạm Tiến Đàm, 52 tuổi, giáp Thượng, thôn Miêu Nha, thuộc Nội phủ Võng Nhi, phủ Triệu Phong.
68.    Nguyễn Đức Mẫn, 48 tuổi, xã Thủy Cần, tổng Thủy Liên, huyện Lệ Thủy, phủ Quảng Bình.
69.    Nguyễn Văn Thảo, 44 tuổi, xã Phú Liêu, tổng An Cư, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong.
70.    Nguyễn Tăng Dương, 38 tuổi, xã Câu Nhi, tổng An Thư, huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong.
71.    Hồ Đắc Ân, 37 tuổi, xã An Truyền, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
72.    Hồ Đắc Nhân, 48 tuổi, xã An Truyền, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
73.    Nguyễn Tiến Quý, 43 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
74.    Nguyễn Văn Trường, 35 tuổi, xã Phú Xuân, tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
75.    Hoàng Thiên Thái, 33 tuổi, giáp Đông, xã Nam Phổ, tổng Dương Nỗ, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
76.    Nguyễn Ngọc Trí, 33 tuổi, xã Phù Trạch, tổng Phù Trạch, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
77.    Hồ Văn Mâu, 41 tuổi, giáp Đông, xã Triều Sơn, tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
78.    Nguyễn Tiến Quang, 32 tuổi, xã Vĩnh Xương, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
79.    Lê Văn Tuân, 35 tuổi, giáp Chánh, xã Thanh Tuyền, tổng Sư Lỗ, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
80.    Lê Văn Ba, 31 tuổi, xã Địa Linh, tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong.
81.    Nguyễn Văn Thận, 31 tuổi, ấp Đặc Thị Thượng, tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
82.    Đào Văn Quang, 29 tuổi, phường Tứ Chánh Mộc Trụ, tổng Kế Thống, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
83.    Lê Quang Triều, 26 tuổi, xã Xuân Hòa, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
84.    Hồ Văn Tín, 34 tuổi, xã Hương Triền, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.
85.    Lê Phúc Chất, 24 tuổi, xã An Cựu, tổng Vĩ Dã, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong.

 

Trang đầu bản tấu của Ngự y phó Đoàn Văn Hòa về việc kê khai danh sách thuộc viên Thái y viện năm Minh Mệnh thứ nhất (1820)

Danh sách các thuộc viên Thái y viện trong bản tấu này gồm 85 người, do Ngự y phó Đoàn Văn Hòa kê khai ngày 17 tháng 11 năm Minh Mệnh thứ nhất (1820). Trên bản tấu lưu lại bút tích ngự phê của vua Minh Mệnh. Trong đó, vua Minh Mệnh đã bổ sung, điều chỉnh về cơ cấu nhân sự, định phẩm hàm cho các thuộc viên Thái y viện.

So sánh với ghi chép trong Đại Nam thực lục thì số nhân sự kê khai trong Châu bản này ít hơn 4 người. Tuy nhiên, khi đối chiếu giữa sử liệu Châu bản triều Nguyễn và chính sử Đại Nam thực lục, chúng tôi nhận thấy thông tin trong chính sử được ghi chép trên cơ sở vua Minh Mệnh đã điều chỉnh, bổ sung trong bản tấu. Điều này cho chúng ta thấy rất rõ việc dùng sử liệu Châu bản để ghi chính sử của Quốc sử quán triều Nguyễn.

Bản tấu không chỉ kê khai danh tính mà còn kê khá đầy đủ thông tin về quê quán, tuổi tác, thời gian bắt đầu vào làm việc của các thuộc viên trong viện. Những thông tin đó sẽ giúp chúng ta giải mã được nhiều vấn đề trong nghiên cứu và tìm hiểu về Thái y viện triều Nguyễn, nhất là khi chúng ta có rất ít tư liệu ghi chép về cơ quan chuyên trách lĩnh vực y tế triều Nguyễn.


[1]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 3, tr.946.

[2]Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb Thuận Hóa, Huế-1993, tập 2, tr.105.

[3]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 1, tr.841.

[4]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 1, tr.726.

[5]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 2, tr.102.

[6]Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 2, tờ 336.

Nguyễn Hường