08:58 PM 11/10/2020  | 

Sau Hiệp ước Thiên Tân ký ngày 11-5-1884 giữa Thiếu tá Hải quân Fournier (đại diện nước Pháp) và phó vương Lý Hồng Chương (đại diện Trung Hoa), hòa ước Giáp Thân ngày 6-6-1884 đã được ký tại Huế, công nhận Pháp được quyền “bảo hộ” Việt Nam. Từ đó, lịch sử Việt Nam bắt đầu bước vào những trang đen tối. Cổ vật Việt Nam – những hiện vật có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học có hàng trăm năm tuổi của dân tộc, một phần chân dung của lịch sử Việt Nam đã bị cướp phá, hủy hoại trắng trợn dưới bàn tay của những tên lính thực dân tham lam và tàn bạo.

Ấn bằng vàng nguyên chất, nặng 234 onces 43 có dòng chữ “Hoàng đế tôn thân chi bửu” đúc khắc năm Minh Mạng thứ tám (1827). Ảnh minh họa trong Paul Boudet, Les Archives des Empereurs d’Annam et l’histoire annamite, Hanoi, IDEO, 1942(ảnh minh họa trong phần I lấy từ Đào Thị Diến, Les archives coloniales au Vietnam (1858-1954). Les fonds conservés au Dépôt Central de Hanoi. Fonds de la Résidence supérieure au Tonkin, Thèse de Doctorat sous la direction de Alain Forest, Université Paris 7 – Denis Diderot, 2004).

Có hai sự kiện bi thương nhất đối với cổ vật Việt Nam mà lịch sử đã ghi lại, đó là cuộc cướp phá kinh thành Huế ngày 5-7-1885 và vụ phá hai chùa Phổ Giác và Báo Ân ở kinh thành Thăng Long trong những năm 1886-1889. 

I. Cuộc cướp phá kinh thành Huế ngày 5-7-1885.

Sau trận tập kích của quân Triều đình Huế vào đồn Mang Cá vào đêm mùng 4 rạng ngày 5-7-1885, quân Pháp điên cuồng tấn công vào một thành trì và một cung điện trong kinh thành Huế. Quân Triều đình tuy đã chống cự anh dũng nhưng cuối cùng, cả hai nơi này đã bị thất thủ. Hoàng cung và kinh thành đã bị lọt vào tay Pháp.

Những tên lính thực dân Pháp lúc này bộc lộ rõ bộ mặt tham lam và tàn bạo trong cuộc cướp phá Hoàng cung, nhằm vơ vét những bảo vật quý giá của các Vua triều Nguyễn mang về nước. Điều này thể hiện rõ trong bức điện ngày 24-7-1885 của tướng De Courcy[1]gửi về Paris:

“… Trị giá phỏng chừng các quý vật bằng vàng hay bạc giấu kỹ trong các hầm kín là 9 triệu quan. Đã khám phá thêm nhiều ấn tín và kim thư[2] đáng giá bạc triệu. Xúc tiến rất khó khăn việc tập trung những kho tàng mỹ thuật. Cần cử sang đây một chiếc tàu cùng nhân viên thành thạo để mang về mọi thứ cùng với kho tàng[3].

Ấn ngọc màu xanh sẫm có khắc dòng chữ “Đại Nam Hoàng đế chi tỷ”, chế tác vào tháng ba, năm Thiệu Trị thứ tư, chỉ dùng đóng vào các văn bản ngoại giao.

Một nhân chứng là linh mục Pène Siefert[4] kể lại:

Họ (người Việt Nam) khiến cho quý vị hết sức lúng túng khi có sẵn trong tay bảng tổng kê tài sản trước ngày 5-7, họ nói rằng người Pháp đã lấy trong trại Cấm vệ quân 113 lạng vàng, 742 lạng bạc, 2.627 quan tiền; tại cung bà Thái hậu Từ Dũ sinh ra Vua Tự Đức 228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương, hạt trai, hạt ngọc, 271 đồ bằng vàng, 1.258 nén bạc, 3.416 lạng vàng; tại các tôn miếu thờ các đức Vua Thiệu Trị, Minh Mạng, Gia Long chứa đầy vật phẩm riêng của các tiên đế dùng lúc sinh thời, hầu hết những thứ có thể tiện mang đi như mũ miện, đai áo, thảm, đệm, triều phục, long sàng và bàn tròn xoay chạm trổ, hoành treo vũ khí, cháp trầu, ống phóng, chậu thau, hỏa lò, mùng và màn the hoa, đỉnh trầm, bình pha trà và khay chén, tăm xỉa răng… Kho tàng trong Hoàng cung đã mất đi gần 24 triệu quan vàng và bạc…

Điều đã làm cho chính Nguyễn Văn Tường[5] phải rơi lụy là sự thiêu hủy văn khố của đa số các Bộ và của Quốc gia Thư viện, những tổn thất gây cho Quốc Sử quán và Quốc gia ấn quán bị mất hết các chữ in Hán tự[6].

Gần một năm sau, vào tháng 4-1886, linh mục Pène Siefert đã được Tổng Trú sứ Trung - Bắc Kỳ Paul Bert viết thư giới thiệu với Công sứ Pháp ở Huế đi kiểm tra tình hình tài liệu của Hoàng cung sau vụ đốt phá ngày 5-7-1885. Cùng đi với Pène Siefert có Pétrus Ký[7] và một nhà nho tên là Tao[8]. Nếu chỉ căn cứ vào tài liệu này, người ta có thể tin rằng nhiệm vụ của Pétrus Ký đã được Triều đình Huế xem xét vì các kho lưu trữ của Kinh thành đang ở trong tình trạng bi thảm sau vụ Huế thất thủ.Tuy nhiên, thực tế lịch sử đã cho thấy giả thiết này hoàn toàn không đúng.

Trong “Monarchie et faitcolonial au Vietnam(1875-1925)[9], Nguyễn Thế Anh[10]cũng đã viết về sự kiện này như sau: “Về mặt chính thức, Petrus Ký có trách nhiệm đi nghiên cứu văn khố Hoàng gia và cùng với các học giả Huế nghiên cứu phạm vi biên giới của Đại Nam bên bờ sông Mekong. Tuy nhiên, Triều đình chắc chắn đã không nhầm về mục đích thực sự về chuyến công cán của Pétrus Ký. Đồng Khánh đã phong cho Ông làm Hàn lâm viện thị giảng (chịu trách nhiệm giải thích sách vở, sắc phong và hồi ký ở Hàn lâm viện). Nhưng vai trò chính trị của Tổng Trú sứ sớm đã bị lộ ra: tháng 6-1886, Pétrus Ký được bổ sung vào Cơ mật viện với tư cách là cố vấn[11]. Mục đích của thực dân Pháp là cài người của họ vào bộ máy của Triều đình, nhằm dần dần biến Việt Nam thành một xứ thuộc địa nửa phong kiến như họ mong muốn.  

Trở lại với vụ cướp bóc ở Hoàng cung. Sau khi đăng quang (9-1885), Vua Đồng Khánh cũng đã đòi Pháp trả lại những báu vật đã bị cướp bóc, thậm chí còn nhắc nhở Toàn quyền Constans trong buổi nhà Vua đến thăm xã giao rằng “nhiều vật phẩm quý giá của Hoàng tộc đã biến mất sau các biến cố ngày 5 tháng 7 và chắc chắn là hiện giờ chứa chấp tại Pháp, nhất là một chuỗi kim cương gom góp từ đời Vua Gia Long cho tới đời Tự Đức và một bảo kiếm nạm ngọc quý của Vua Gia Long[12].

Sự kiện ngày 5-7-1885 đã gây phẫn uất cho chính những người trong bộ máy chính quyền thuộc địa đương thời. Trong báo cáo ngày 28-2-1889 trình lên Toàn quyền Richaud, Khâm sứ Trung Kỳ Rheinart viết:

Ngày 5-7-1885, nhân vụ biến cố ở Huế, một số lớn bảo vật đã bị cướp đoạt và người ta phải hổ thẹn khi nghĩ tới những cảnh tượng đã xảy ra vào dịp đó: con voi bằng vàng đúc rất khéo, rất quý giá, bị chặt làm đôi vì sự tranh chấp giữa hai kẻ muốn giành được cho mình một phần nguyên chất của bảo vật. Điểm đáng buồn hơn cần phải nhắc lại, là một vị tướng lãnh, thiếu tướng Prudomme, đã chẳng ngần ngại chiếm đoạt những phẩm vật quý giá, và chẳng hề có ai nghĩ cách giác ngộ lương tri của mãnh nhân ấy, báo chí cũng không đả động gì, và người ta cũng chẳng yêu cầu kẻ tham bạo trả lại Triều đình Huế một phần các chiến lợi phẩm. Nhận định hiện trạng nghèo nàn, túng bấn của Triều đình Huế, người ta phải quên đi ác ý cũ do chính chúng ta đã gây ra bằng những hành động khó mà biện bạch nổi, và người ta rất tiếc không còn ai có thể bắt phải hoàn lại một phần những thứ đã bị cướp đoạt một cách trắng trợn.

Tất nhiên, người ta đã có thể coi biến cố ngày 5-7-1885 như một “cuộc mai phục” nhưng há chẳng phải là chính chúng ta đã gây ra vụ ấy, và Triều đình Huế há lại chẳng nhớ hai lần Hà Nội thất thủ và những cuộc khiêu khích của chúng ta tại Bắc Kỳ?

Dù có xét vụ Huế theo cách nào thì bổn phận nghiêm ngặt nhất cũng không cho phép biển thủ một ly tài sản của Triều đình…[13].

Một cuốn Kim sách triều Vua Gia Long có nội dung xác định thế hệ con cháu thuộc dòng chính của Vua. Ảnh trên: bìa sách. Ảnh dưới: ruột sách.

II. Vụ phá hai chùa Phổ Giác và Báo Ân ở kinh thành Thăng Long 1886-1889.

Trong quá trình quy hoạch khu phố Tây thứ nhất[14] vào cuối thế kỷ thứ XIX ở phía đông nam hồ Hoàn Kiếm, để xây dựng phức hợp công trình Bốn Tòa (Quatre Bâtiments)[15] nằm trên đất của các thôn Yên Trường, Hà Thanh, Bảo Linh thuộc huyện Thọ Xương, thực dân Pháp đã phá hủy hai chùa tọa lạc trên địa bàn này là chùa Phổ Giác và Chùa Báo Ân.

1. Chùa Phổ Giác hay còn được gọi là chùa Tàu vì trong ngôi chùa cổ này xưa kia còn có một tàu tượng (chuồng voi) do các tù binh người Chăm trông nom. Sau năm 1882, quân đội Pháp chiếm đóng nơi này làm cơ quan tình báo quân sự. Năm 1886-1887, chùa bị phá dỡ, chuyển về khu Y miếu cũ thuộc thôn Lương Sử gần Văn Miếu để lấy đất xây Tòa Đốc lý. Khi phá chùa, người ta còn thấy nhiều di vật kiến trúc điêu khắc gốc Chăm, như mi cửa có phù điêu lá cọ, tượng hai tiên nữ đầu người mình chim chơi đàn luth.[16]

Tòa Đốc lý Hà Nội được xây trên khuôn viên của chùa Phổ Giác (ảnh sưu tầm).

2. Chùa Báo Ân (còn gọi là chùa Liên Trì hay chùa Quan Thượng) có lầu Ngũ Long rất nổi tiếng, do Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai quyên tiền xây dựng vào khoảng năm 1842. Chùa gồm 36 tòa lớn nhỏ, tổng cộng 180 gian, mặt quay ra phía đê sông Hồng, có hồ sen, vườn tháp. Trong chùa có hàng trăm pho tượng lớn nhỏ đủ loại kích cỡ, sơn son thếp vàng, rất giống các tượng Phật giáo Tiểu thừa ở Sri Lanka và Singapore[17], có cảnh Thập điện Diêm Vương báo oán ở địa ngục rất ghê sợ nên người Pháp thường gọi là Pagode des Supplices (chùa Khổ hình). Trong “De Paris au Tonkin” xuất bản tại Paris năm 1885, P. Bourde cho rằng các tượng Phật ở chùa Báo Ân có phần hoàn chỉnh hơn bộ sưu tập 500 vị thần tương tự trong một ngôi chùa nổi tiếng ở Quảng Châu, Trung Quốc.

Mặt trước chùa Báo Ân 1884 (ảnh sưu tầm).

Các tòa tháp trong chùa Báo Ân 1884 (ảnh sưu tầm).

Sau khi chiếm thành Hà Nội, quân Pháp lấy chùa làm trụ sở cơ quan hậu cần (Sở Binh lương). Nhiều pho tượng đẹp, quý giá bị quan chức và binh lính Pháp lấy cắp mang về Pháp. Ngói ở chùa bị tháo dỡ, chùa rơi vào cảnh đổ nát. Khoảng năm 1889, chùa bị phá hủy hoàn toàn để lấy chỗ xây dựng lại và mở rộng hai công trình Bưu điện và Phủ Thống sứ. Chỉ còn ngôi tháp nhỏ Hòa Phong ở sát bờ hồ Hoàn Kiếm là còn được giữ lại cho tới ngày nay.

Tháp Hòa Phong trước kia (ảnh sưu tầm).

Tình trạng phá bỏ các di tích lịch sử cùng việc lấy cắp các cổ vật ở Việt Nam còn tiếp tục kéo dài cho đến tận năm 1901, khi Ủy ban Cổ vật Bắc kỳ (Commission desAntiquités du Tonkin) được thành lập tại Hà Nội với nhiệm vụ “điều tra sưu tầm, xếp hạng các di tích di vật lịch sử, khảo cổ, dân tộc và nghệ thuật ở Bắc Kỳ” và Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (Ecole française d’Extrême Orient – EFEO) ra đời với mục tiêu “Đảm bảo việc bảo tồn và duy tu các công trình lịch sử của Đông Dương thuộc Pháp”. Nhiệm vụ của Giám đốc EFEO cũng được quy định: “Đề xuất lên Toàn quyền việc xếp hạng và giáng hạng các công trình lịch sử cũng như biện pháp bảo tồn cần thiết; hướng dẫn và giám sát việc thực thi các công trình giải toả, sửa chữa, khai quật... và quyết định về việc chuyển giao các đồ vật cho bảo tàng”.

Với sự cộng tác của những người bản xứ cùng chí hướng,Ủy ban Cổ vật Bắc Kỳ và EFEO đã có nhiều đóng góp và đã đạt được nhiều thành công trong việc bảo tồn các di tích lịch sử ở Hà Nội. Nhờ có sự tư vấn, can thiệp tích cực của hai tổ chức khoa học này mà các công trình văn hóa và các di tích lịch sử ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng đã được xếp hạng, kiểm kê và bảo vệ tốt hơn, nhờ vậy cổ vật của Việt Nam cũng tránh được nhiều nguy cơ bị xâm hại trong các thời kỳ sau.

 

[1]De Courcy: Tổng Trú sứ Trung - Bắc Kỳ, Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương.

[2] Kim thư hay còn gọi là Kim sách (sách vàng) là một trong hai loại hình tài liệu bằng kim loại (vàng và bạc) của triều Nguyễn, được khắc trên các lá vàng dát mỏng và được đóng quyển. Ngoài hai tờ bìa ra, Kim sách dày nhất thường chỉ có bảy tờ ruột, mỗi tờ chỉ có năm dòng chữ, mang nội dung chữ nghĩa, rất súc tích, ngắn gọn, dùng để tôn phong các Vua, Chúa hoặc để ban tặng cho các thành viên được sủng ái trong Hoàng gia và Hoàng tộc.

[3]Mémoire et documents Asie”, t. 47, tr. 121 (document inédit).Dẫn theo Cuộc bạo hành tại Huế ngày 5-7-1885 – vụ cướp phá Hoàng cung – Cuộc đề kháng của Vua Hàm Nghi và triều Đồng Khánh (nguyên tác tiếng Pháp của Nguyễn Xuân Thọ gửi về từ Paris, bản dịch của GS. Nguyễn Ngọc Cư), Tập san Sử Địa, số 14-15 năm 1969, tr.15.

[4]Pène Siefert là linh mục cai quản xứ Trung Kỳ.

[5]Nguyễn Văn Tường: Phụ chính đại thần của triều Nguyễn.

[6]J. Chesneaux, Contribution à l’histoire de la nation vietnamienne, tr. 131,tlđd.

[7]Pétrus Ký sinh ngày 6-12-1837 tại Vĩnh Long, mất năm 1898,tên lúc nhỏ là Trương Chánh Ký, hiệu là Sĩ Tài, là nhà chính trị, nhà văn, nhà khoa học xã hội của Việt Nam thế kỷ 19, từng là quan đại thần trong Hàn Lâm viện thị giảng của Triều đình nhà Nguyễn.

[8]Nguyên văn trong tài liệu tiếng Pháp không có dấu nên có thể là Tảo, Tạo hoặc Tào (?).

[9]Editions l’Harmattan, Paris, 1992, p. 138.

[10]Nguyễn Thế Anh: sinh năm 1936 ở Lào, sử gia người Việt Nam, giáo sư đại học nổi tiếng nước Pháp Paris-Sorbonne.

[11]Dẫn theo Đào Thị Diến, tlđd, tr. 112.

[12]Mémoire et documents Asie”, t. 73, tr. 141-142 (document inédit), tlđd.

[13]Mémoire et documents Asie”, t. 74, tr. 248-249 (document inédit), tlđd.

[14] Khu phố Tây thứ hai được quy hoạch và xây dựng vào cuối thế kỷ XIX-đầu thế kỷ XX ở phía tây thành Hà Nội.

[15] 4 tòa là 4 công trình tiêu biểu cho sự bảo hộ của nước Pháp ở Hà Nội gồm: Bưu điện Thành phố, Tòa Đốc lý, Kho bạc và Phủ Thống sứ Bắc Kỳ.

[16]Madronlle Cl, Hanoï et ses environs, London, 1912, tr. 14. Dẫn theo Lịch sử Thăng Long-Hà Nội (Phan Huy Lê cb), Nxb Hà Nội, 2012, tr. 125.

[17]Hocquard, Une campagne au Tonkin (1884), Paris, 1892, tr. 234. Sđd, tr. 125.

TS. Đào Thị Diến