08:31 PM 21/07/2020  | 

Ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (01/6/1802), Nguyễn Vương ban hành niên hiệu Gia Long, chính thức mở ra một triều đại mới. Năm 1919, Hoàng đế Khải Định đã lấy ngày này làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, gọi là Hưng quốc Khánh niệm.

Bản tấu của Bộ Lễ nghi – Công tác ngày 19 tháng 4 năm Bảo Đại thứ 20 (30/5/1945) về việc nghi chú Lễ Hưng quốc Khánh niệm.

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Khải Định là vị Hoàng đế chịu nhiều ảnh hưởng của văn minh phương Tây, ông cũng là vị vua đầu tiên của triều Nguyễn công du ra nước ngoài. Qua tiếp xúc trực tiếp với người Pháp, đã phần nào tác động đến tư tưởng của nhà vua, từ phong cách ăn mặc, ngôn ngữ lời nói, đến các nghi thức trong triều. Hoàng đế Khải Định tự thiết kế trang phục kiểu mới và cho xây dựng điện Kiến Trung, cung An Định, Ứng Lăng đều theo phong cách kiến trúc hiện đại.

Phải chăng bởi ảnh hưởng theo phong cách phương Tây mà Hoàng đế Khải Định đã quy định lấy ngày Hoàng đế Gia Long lên ngôi (ngày mồng 2 tháng 5 âm lịch) là ngày đại lễ của đất nước, với tên gọi Lễ Khánh niệm Hưng quốc, tương tự như lễ quốc khánh của các nước hiện nay. Bắt đầu tổ chức lễ kỉ niệm ngày Vua Gia Long hoàn thành công việc khôi phục giang sơn và chính thức thành lập triều đại vào năm Khải Định thứ 3 (1918): “Chuẩn lấy ngày mồng 2 tháng 5 hàng năm làm ngày lễ kỉ niệm[1]. Vua Khải Định ban dụ rằng: “Các nước văn minh ở bên châu Âu rất coi trọng những ngày lễ kỉ niệm, như nước Đại Pháp lấy ngày thành lập nền Cộng hòa làm ngày lễ kỉ niệm Chính Trung [2]… Nước ta hồi năm ngoái cũng đã bàn định lấy ngày trẫm lên ngôi (ngày 17 tháng 4) làm ngày lễ kỉ niệm… Đối với triều ta thì năm Gia Long nguyên niên là năm khởi đầu tạo dựng thành công sau bao gian nan vất vả, lẽ nào nỡ bỏ qua để đi kỉ niệm ngày nào khác. Vì thế, về ngày lễ kỉ niệm chuẩn đổi lại, lấy ngày mồng 2 tháng 5, tức là ngày đầu tiên Thế tổ Cao Hoàng đế triều ta sau hơn hai mươi năm gian khổ hoàn thành võ công đại định thiên hạ mà vẻ vang lên ngôi nhận mệnh lớn. Truyền tới ngày đó, trẫm sẽ thân hành dẫn Tôn nhân phủ cùng Đình thần văn võ ra Thế miếu kính cẩn hành lễ. Lễ xong trẫm về cung thiết triều nghi bình thường tại điện Cần Chính để nhận chúc mừng. Các cơ quan hữu ti phải soạn định ra nghi thức chi tiết để lấy đó thành lệ. Vào ngày hôm đó, tất cả quan lại, binh lính và dân chúng đều chuẩn cho được nghỉ ngơi vui chơi cả ngày để cùng chia sẻ niềm vui[3].

Tháng 4, năm Khải Định thứ 4 (1819), nhà vua lại cho đổi tên đại lễ này: “Chuẩn đặt tên gọi tôn kính ngày lễ kỉ niệm là Lễ Khánh niệm Hưng quốc[4]. Vua Khải Định dụ rằng: “Nước ta mới định đặt ra một ngày lễ kỉ niệm, đó là ngày đầu tiên Thế tổ Cao Hoàng đế triều ta khai sáng ra sự nghiệp lớn lao để lại cho muôn đời sau. Trẫm xét thấy thần dân khắp trong nước được tin ấy ai cũng hân hoan mừng rỡ tuân hành, thậm chí có nơi bỏ qua cả ngày tế Đoan dương để vui mừng tổ chức ngày kỉ niệm này[5]. “Nếu chỉ dùng hai chữ “kỉ niệm” không thôi thì e lẫn lộn và chưa hợp với nguyện vọng của nhân dân. Để ghi lại ngày vui mừng và thể hiện lòng ghi tạc không quên thì chi bằng đặt cho một cái tên gọi đẹp đẽ để lưu truyền mãi mãi. Vì vậy hai chữ “kỉ niệm” sẽ phỏng theo cách gọi ngày lễ kỉ niệm Chính Trung mà tôn kính gọi là lễ Khánh niệm Hưng quốc. Truyền thông lục cho khắp trong ngoài đều biết để tuân hành[6].

Châu bản triều Nguyễn ghi chép nghi thức lễ Hưng quốc Khánh niệm là ngày Gia Long phục quốc (mồng 2 tháng 5 âm lịch): “Buổi mai làm lễ tại Thế miếu, thiết triều tại điện Cần chánh, làm lễ Cầu hồn nhà thờ Phủ Cam, làm chay tại miếu Công thần; Buổi chiều có tổ chức các cuộc chơi trước Phu Văn lâu, phụng Hoàng thượng, Ngài Nam Phương Hoàng hậu ngự ra duyệt lãm, có mời quý Khâm sứ Đại thần và liệt quý quan ra xem cả[7]. Hoàng đế Bảo Đại phê duyệt rằng: “Chuẩn hành lễ tại Thế miếu lúc 6h và chuẩn định các cuộc chơi trước Phu Văn lâu. BĐ[8].

Lễ Hưng quốc Khánh niệm của người An - Nam bắt đầu được tổ chức dưới thời Hoàng đế Khải Định và tiếp tục diễn ra dưới thời Hoàng đế Bảo Đại. Triều Nguyễn tổ chức đại lễ Hưng quốc Khánh niệm cuối cùng vào ngày mồng 2 tháng 5 năm Bảo Đại thứ 20 (02/6/1945) [9], trước khi Hoàng đế Bảo Đại - vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến Việt Nam thoái vị và trao ấn kiếm tượng trưng vương quyền cho chính quyền Việt Minh, chấm dứt triều đại nhà Nguyễn thống trị 143 năm (1802-1945).


[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh – Khải Định chính yếu, NXB Thời đại, HN, 2009, tr. 227.

[2] Chính Trung: Tức Quốc khánh Pháp 14/7.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh – Khải Định chính yếu, NXB Thời đại, HN, 2009, tr. 228-229.

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh – Khải Định chính yếu, NXB Thời đại, HN, 2009, tr. 229.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh – Khải Định chính yếu, NXB Thời đại, HN, 2009, tr. 229.

[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh – Khải Định chính yếu, NXB Thời đại, HN, 2009, tr. 230.

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Bảo Đại tập số 46, tờ số 79.

[8] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Bảo Đại tập số 46, tờ số 79.

[9] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Bảo Đại tập số 29, tờ số 328.

Thu Thủy