08:56 PM 06/05/2020  | 

Chiến dịch Điện Biên Phủ - 56 ngày đêm “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã làm phá sản kế hoạch Navarre, kết thúc giấc mơ kéo dài chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp - Mỹ. Đây là yếu tố quan trọng đem lại sự thành công cho Hội nghị Genève và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Nhân dịp kỷ niệm 66 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2020), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc bài viết: “Điện Biên Phủ, chiến dịch mang lại hòa bình ở Đông Dương” của tác giả Hong Quan và Tu Dzung đăng trong cuốn “Le Vietnam en marche, 1956-1957” – TTLTQG I.

Vị trí Điện Biên Phủ ở miền Bắc Việt Nam

Vào một buổi sáng cuối thu, bỗng nhiên, sự yên tĩnh của Điện Biên Phủ bị phá vỡ bởi tiếng gầm rú của những chiếc phi cơ đưa quân viễn chinh Pháp nhảy dù xuống nơi đây. Đến ngày 20/11/1953, Điện Biên Phủ đã bị chiếm đóng.

Pháp đã điều động 21 tiểu đoàn trong số những tiểu đoàn tinh nhuệ nhất của lực lượng viễn chinh Pháp, gồm 16000 quân nhảy dù xuống thung lũng Điện Biên Phủ có chiều dài 19 km và chiều rộng từ 5-8 km; trang bị vũ khí hạng nặng, pháo, xe tăng, máy bay trinh sát và máy bay trực thăng và giao quyền tổng chỉ huy cho Đờ-cát-tơ-ri. Quân địch chia thung lũng thành ba khu, tám phân khu và xây 49 đồn bốt; mở cầu hàng không nối liền với Hà Nội và Hải Phòng. Trong ba tháng rưỡi, chúng đã dùng 1290 tấn thép gai dựng nên bức tường rào kiên cố. Điện Biên Phủ đã trở thành khu căn cứ điểm vững chắc, bất khả xâm phạm trong chiến lược của Pháp và Mĩ ở Đông Dương. Chúng cho rằng với điều kiện địa hình hiểm trở và lực lượng của ta trang bị yếu kém thì quân đội Việt Nam không thể đưa quân vào, cũng như phá vỡ tuyến phòng thủ nơi này và nếu đến được khu căn cứ điểm thì cũng không có khả năng tiếp ứng.

Bản đồ Điện Biên Phủ trong chiến dịch

Chiếm đóng Điện Biên Phủ tạo thành điểm mấu chốt của “Kế hoạch Navarre” mà Dulles và Bidault đã đặt tất cả hy vọng vào đó. Kế hoạch này mang tên của viên Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, do Lầu Năm Góc quyết định, với mục tiêu phải hoàn thành trong 18 tháng, gồm 4 điểm:

1. Chiếm toàn bộ thung lũng Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc của Việt Nam.
2. Lập tập đoàn cứ điểm lớn ở đây nhằm tái chiếm Bắc Lào và toàn bộ vùng Tây Bắc Việt Nam.
3. Tiêu diệt quân du kích ở miền Trung và miền Nam Việt Nam, tiếp đó tập hợp toàn bộ lực lượng ở châu thổ Sông Hồng lập thành các binh đoàn cơ động để đối phó với mọi tình huống.
4. Thắt chặt vòng vây đồng thời tiêu diệt hoàn toàn Quân đội nhân dân Việt Nam trong vùng Điện Biên Phủ và châu thổ sông Hồng.

Tuy nhiên, quân viễn chinh Pháp đã không thể thực hiện được kế hoạch quá khó này và đã bị quân ta đánh bại. Trước khi tấn công Điện Biên Phủ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã chiếm Lai Châu (đồn cuối cùng do Pháp nắm giữ trước khi chiếm đóng Điện Biên Phủ) cách phía Bắc 75 km; phối hợp với quân đội Pathet Lào tấn công từ phía Bắc Lào về Luang-Prabang, đe dọa khu căn cứ điểm của Pháp ở Savannakhet và Seno ở phía Nam, buộc Navarre phải điều quân dự bị để tiếp viện bảo vệ các khu căn cứ trọng yếu; đồng thời, mở các đợt tấn công lớn ở châu thổ sông Hồng, miền Trung và miền Nam khiến cho quân địch không thể hoạt động được trong khu vực này. Ngày 12/4/1954, Navarre đã trả đũa bằng một cuộc phản công ở miền Trung và miền Nam với hy vọng quân đội Việt Nam chuyển hướng rút khỏi Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, trái với dự đoán của chúng, ngay hôm sau, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp tục tấn công Điện Biên Phủ. Trận chiến lịch sử kéo dài suốt 55 ngày.

Công tác chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ là những nỗ lực và quyết tâm cao của quân và dân Việt Nam. Các sư đoàn phải băng rừng, lội suối, vượt qua hàng trăm cây số; tiếp tế cho chiến dịch được thực hiện bằng mọi cách, kể cả những phương tiện thô sơ nhất; lương thực và đạn dược được chuyển bằng xe tải, xe đẩy, xe đạp, xe cút kít hoặc đội, vác trên lưng người. Việc vận chuyển pháo là một trong những trang sử kỳ tích nhất của chiến dịch. Chuyển lựu pháo 105 mm bằng tay, qua đèo hiểm trở, không có đường mòn với sức người dường như không thể, vậy mà các chiến sĩ Điện Biên Phủ của ta đã lập được kỳ tích đó. Trong một đêm, chỉ với những khúc gỗ dùng để chặn bánh xe, khoảng bốn chục người đã dùng dây thừng di chuyển khẩu pháo tiến về phía trước đến 2-3 km. Họ phải nhích từng bước, từng bước suốt cả đêm trên những con dốc cao, vừa trơn lại vừa trượt. Ban đêm quân ta ra sức đào hào và ban ngày củng cố. Địch phát hiện đường hào cách chỗ chúng chỉ vài mét nên đã cố dùng máy ủi để san lấp. Bất chấp những quả bom và  mìn chứa xăng khô napalm , hào được đào sâu hơn và tiếp cận gần hơn căn cứ của quân Pháp. Vào những ngày cuối tháng hai, khi những quả đạn pháo đầu tiên của Việt Nam nổ trong thung lũng Điện Biên Phủ phá hủy bảy chiếc máy bay vận tải chỉ trong vài phút đã bất ngờ làm cho Đờ-cát-tơ-ri choáng váng. Suốt nhiều tháng, quân đội thích ứng với phương án tác chiến hoàn toàn mới. Khu vực kiểm soát của Pháp bị thu hẹp tới mức không thể hẹp hơn và không thể khắc phục được nữa.

Các chiến sĩ Điện Biên Phủ di chuyển khẩu pháo qua đường rừng

Một sự bất ngờ khác dành cho Navarre và quân của ông ta, đó là hy vọng sử dụng lực lượng không quân hòng làm tê liệt quân đội Việt Nam trên mặt trận và trong vùng cứ điểm. Nhưng “D.C.A” của Việt Nam tỏ ra cực kỳ hiệu quả, ngoài đánh cảm tử, các xạ thủ đã chứng tỏ tài bắn của mình khi bắn thẳng vào máy bay địch khiến cho xác máy bay ném bom và binh lính địch phủ đầy bãi chiến trường và trên các quả đồi xung quanh. Hỏa lực phòng không của Việt Nam buộc máy bay tiếp tế của địch phải bay ở độ cao, để rồi phần lớn lương thực và đạn dược tiếp tế cuối cùng rơi vào tay quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau nhiều tháng chuẩn bị, ngày 13/3/1954, bộ chỉ huy Việt Nam phát lệnh tấn công. Đầu tiên là kế hoạch đánh chiếm khu vực phía Bắc, tấn công phía Đông, sau đó thắt chặt bao vây khu vực Trung tâm, cắt nửa sân bay chính và cuối cùng tiến hành cuộc tổng tấn công. Kế hoạch diễn ra qua ba giai đoạn.

Vào lúc 16 giờ ngày 13/3, Quân đội Việt Nam tấn công Him Lam do một tiểu đoàn lính lê dương nắm giữ và đã kiểm soát được cứ điểm sau 3 giờ chiến đấu đẫm máu. Ngày 14/3, vị trí đồi Độc Lập do tiểu đoàn người châu Phi chiếm đóng cũng chịu chung số phận. Ngày 15/3, tiểu đoàn người dân tộc Thái bảo vệ Bản Kéo đã đầu hàng. Địch đã mở nhiều đợt tấn công nhằm chiếm lại các đồn bốt này nhưng đều vô ích. Giai đoạn đầu kết thúc, quân ta chiếm giữ được hoàn toàn khu vực phía Bắc.

Giai đoạn bắt đầu đêm 30/3 và kéo dài 25 ngày. Ngay trong đêm 30/3, quân đội Việt Nam đã tấn công một số đồn bốt và gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ của địch. Ở một vài vị trí, các trận đánh phải kéo dài trong nhiều tuần. Đánh chiếm các đồn bảo vệ sân bay là trận đẫm máu nhất, quân địch tử chiến để cố giữ quyền kiểm soát các căn cứ điểm trọng yếu này. Đến cuối giai đoạn, vòng vây ngày càng siết chặt hơn và quân đội ta càng tiến gần đến hầm của Đờ-cát-tơ-ri.

Đầu tháng 5, Quân đội nhân dân Việt Nam liên tục xóa sổ hàng loạt các căn cứ điểm. Đêm ngày 6/5, quân ta đã chiếm được đồi 204, cách hầm Đờ-cát-tơ-ri 400 mét; viên sĩ quan chỉ huy Pháp được yêu cầu gọi điện thoại khuyên tướng của anh ta đầu hàng và nhận được câu trả lời: “thà chết chứ không chịu đầu hàng”. Lính Pháp ở các chiến hào phía trước cách hầm Đờ-cát-tơ-ri khoảng 20 mét đã bỏ vũ khí đầu hàng.
Một số cờ trắng (cờ xin hàng) của quân Pháp đã được giương lên và chẳng mấy chốc đã phủ trắng cả trại cố thủ. Tổng chỉ huy Điện Biên Phủ, tướng Đờ-cát-tơ-ri và tất cả lính Pháp đều bị bắt làm tù binh. Cùng thời điểm đó, đồn trú Hồng Cúm, phía Nam Điện Biên Phủ, quân địch cố tìm đường trốn sang Lào nhưng đều bị tiêu diệt.

Vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử đã chấm dứt. Sự thất bại ở Điện Biên Phủ đã làm phá sản kế hoạch Navarre, kết thúc giấc mơ kéo dài chiến tranh của Dulles và Bidault. Hệ quả tất yếu là sự thành công của Hội nghị Genève và lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Toàn cảnh Điện Biên Phủ sau trận đánh

Lược dịch từ bài viết của tác giả Hong Quan và Tu Dzung đăng trong cuốn “Le Vietnam en marche, 1956-1957” – Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.

Minh Phúc