08:11 AM 08/09/2021  | 

Từng giữ chức Chánh Sở Học chính Trung-Bắc Kỳ, G.Dumoutier được đánh giá là một học giả uyên bác, một công chức trung thành và một bậc quân tử chân chính. Trong sự nghiệp của mình, Dumoutier đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về khảo cổ, lịch sử, văn hóa của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng.

G.Dumoutier, Chánh Sở Học chính Trung-Bắc Kỳ. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Gustave Dumoutier sinh ngày 03/6/1850 tại Courpalay, gần Coulommiers (Pháp). Cha của ông, một nhà công nghiệp lớn, muốn con trai nối nghiệp mình nhưng chàng thanh niên ham học ấy lại không muốn làm điều đó mà theo đuổi lý tưởng riêng của mình.

Ông trở thành thành viên của Hội Khảo cổ vùng Seine và Marne và xuất bản hai cuốn sách khá nổi tiếng, đó là: Phát hiện các di tích khảo cổ học thời tiền sử. Những người Briards trước lịch sử (Coulommiers, 1877) và Những di tích thời kỳ đồ đá cũ vùng Montapeine và Beautheil (Coulommiers, 1878).

Từ khảo cổ học, ông chuyển sang nghiên cứu nhân chủng học, dân tộc học và khoa học tôn giáo. Năm 1882, ông xuất bản một tập sách có ảnh minh họa: Nơi ở của loài người thời tiền sử trên cao nguyên Grand-Morin (Seine và Marne).

Tuy nhiên, các ấn phẩm nghiên cứu khoa học không đủ nuôi sống nhà khoa học, ông đã phải làm thêm trong một xưởng in để kiếm sống, và từng có ý định phấn đấu trở thành giám đốc nhưng xưởng này mắc quá nhiều bê bối nên dự định của ông bị dang dở.

Khi theo học lớp lịch sử bảo tàng, ông đã gặp Paul Bert. Cuộc gặp này đã ảnh hưởng lớn đến cuộc đời của Dumoutier.

Năm 1883, Dumoutier bắt đầu tìm hiểu nhiều hơn về xứ thuộc địa. Vào thời điểm đó, Bắc Kỳ được nhắc đến rất nhiều và đặc biệt hấp dẫn ông. Ông bắt đầu theo học lớp tiếng Việt và chữ Hán tại Trường Ngôn ngữ Phương Đông và đặc biệt có năng khiếu về bộ môn khoa học mới này. Ngay năm 1885, trên tạp chí Dân tộc học, ông đã viết một bài báo về “Chữ vạn và bánh xe mặt trời trong hệ thống ký hiệu và ký tự chữ Hán”.

Sau sự kiện chính trị xảy ra tại Lạng Sơn vào năm 1886, Paul Bert được bổ nhiệm làm Tổng Trú sứ Trung-Bắc Kỳ. Ông liền nhớ tới người bạn học cũ của mình và đề nghị Dumoutier cùng đến Việt Nam với tư cách là thông ngôn tiếng Việt và chữ Hán.

Dumoutier tới Hà Nội vào ngày 04/4/1886. Lúc này, ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, vấn đề giáo dục còn ít được quan tâm. Chỉ các thành phố Hà Nội, Lạng Sơn mới có trường Pháp-Việt và không một địa phương nào tuyển dụng thông ngôn mà tất cả đều đến từ Nam Kỳ.

Mặc dù làm việc trong thời gian rất ngắn (08/4-11/11/1886) song Paul Bert đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục. Ông đã tin cẩn và bổ nhiệm Dumoutier làm “người tổ chức và thanh tra các trường Pháp-Việt” tại Bắc Kỳ và sau này, trở thành Chánh Sở Học chính Trung-Bắc Kỳ.

Dumoutier đã ra sức giúp Paul Bert đề ra chương trình và tổ chức tại Bắc Kỳ: 01 trường thông ngôn; 09 trường nam sinh Pháp-Việt; 04 trường nữ sinh Pháp-Việt; 117 trường tư thục bản xứ và các lớp học tiếng Pháp dành cho các giáo viên tiểu học. Ở Huế, mở 01 trường học cho con em hoàng tộc và con các quan lại. Đặc biệt, ở Hà Nội thành lập được Viện Hàn lâm Bắc Kỳ với chương trình được quy định bằng Sắc lệnh ngày 03/7/1886 như sau: Tập hợp và nghiên cứu tất cả những vấn đề liên quan đến Bắc Kỳ; giám sát việc bảo tồn các di tích; chỉ dẫn cho người dân tìm hiểu về khoa học hiện đại và sự tiến bộ của các nền văn minh bằng cách cho dịch và phát hành các ấn phẩm từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt; dịch và phát hành bằng tiếng Pháp những trích đoạn sử ký quan trọng dưới các triều đại cũng như các tác phẩm khác do một ủy ban nghiên cứu chỉ định; hỗ trợ việc thành lập thư viện công tại các thành phố và Thư viện quốc gia tại Hà Nội; áp dụng biện pháp bảo tồn các văn bia, di tích nằm rải rác trên thực địa, tìm kiếm, báo cáo và vận chuyển đến nơi an toàn nếu chúng nằm trong các đình, chùa bị hư hỏng hoặc không được bảo vệ hiệu quả; biên soạn và phát hành tập san hàng tháng trong đó các câu hỏi về khoa học, văn học, kinh tế và kỹ thuật sẽ được giải đáp; liên hệ với các Hội nghiên cứu phương Đông của châu Âu và châu Á để thường xuyên cập nhật những công trình nghiên cứu khoa học về các khu vực này.

Ngoài ra, họ còn dự kiến thành lập 01 trường đào tạo nghề; 01 trường nghệ thuật trang trí và mở các lớp tiếng Việt và chữ Hán cho đội ngũ công chức, khen thưởng đối với những người có thành tích học tập tốt.

Rõ ràng là Paul Bert đã tránh lặp lại sai lầm tại Nam Kỳ, nơi người ta muốn “Pháp hóa” người Việt đến cùng. Ông thực sự rất tôn trọng các thiết chế và tập quán của xứ An Nam. Ông tuyên bố rằng "không nên nghĩ đến việc xóa bỏ ngay nền Nho giáo, nền giáo dục duy nhất được coi trọng và tôn vinh trong đất nước này, ngược lại, nên tận dụng uy tín của nó, để giới thiệu về ngôn ngữ và ý tưởng phương Tây. Nếu trẻ em An Nam rời khỏi trường học mà không thể đọc và viết những chữ Hán thông dụng nhất, chúng sẽ trở thành người ngoại quốc ngay trên chính đất nước mình".

Ông Dumoutier, người có cùng quan điểm với Paul Bert về vấn đề này, cho biết “việc xóa bỏ chữ Hán chẳng khác gì xóa bỏ việc dạy đạo đức ở nơi đây và sẽ chẳng có gì bù đắp được thứ đã mất”.

Năm 1887, nhận thấy tình trạng thiếu nhà nho để dạy chữ Hán và cũng không có đủ sách, không đủ thày dạy các tác phẩm của các nhà luân lý học, triết học Trung Hoa, hay những tác phẩm về tôn giáo cho học sinh An Nam, Dumoutier tăng cường giáo viên dạy chữ Hán cho các trường Pháp-Đông Dương - những trường khi đó chỉ dạy chữ Quốc ngữ.

Dumoutier ra lệnh bắt buộc học chữ Hán ở trường Thông ngôn bởi từ kinh nghiệm của ông, muốn dịch một văn bản chính thống, điều phiến toái nhất là nhà Hán học không biết tiếng Pháp và ngược lại, thông ngôn tiếng Pháp lại không biết chữ Hán, tất nhiên việc học tiếng Pháp vẫn phải được song hành. Ông đã cố gắng phổ biến rộng rãi ngôn ngữ này trong giới thượng lưu người Việt, thậm chí ông còn tính đến việc dùng tiếng Pháp làm môn thi bắt buộc trong kỳ thi hương.

Thật không may, ngay sau khi Paul Bert mất, bất chấp những nỗ lực của Dumoutier để thực hiện chương trình mà 2 người đã vạch ra, các cuộc cải cách dần dần sụp đổ và tiêu tan trước sự thờ ơ của chính quyền kế nhiệm.

Dumoutier đã đấu tranh không ngừng, cố gắng bảo vệ quan điểm của mình nhưng phe đối lập, vốn xuất phát từ Nam Kỳ, đã thắng thế và dần dần vẫn được áp dụng cách cũ ở Bắc Kỳ: đó là việc học chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp và bãi bỏ chữ Hán. Tuy nhiên, những nỗ lực của ông cuối cùng cũng phần nào được đền đáp. Năm 1894, chính quyền mở lại các khóa học chữ Hán cho công chức. Năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer đã tái lập trường Trung học Huế với tên gọi mới là Trường Quốc học và tổ chức lại trường Mỹ thuật Công nghiệp. Năm 1898, trong chương trình thi ở Nam Định có thêm môn thi tiếng Pháp.

Mặc dù bận rộn với nhiều công việc hành chính song Dumoutier vẫn duy trì hoạt động viết sách và nghiên cứu. Ông cho xuất bản: sách học vần và bài tập đọc sử dụng trong trường Pháp-Việt; bài tập thực hành tiếng Việt; giáo trình quân sự Pháp-Bắc Kỳ; những bài học trong lịch sử An Nam…

Dumoutier chưa bao giờ là một nhà ngôn ngữ học xuất sắc nhưng ông lại là người say mê nghiên cứu khoa học, dân tộc học, tôn giáo, văn hóa dân gian, lịch sử và khảo cổ học. Danh mục các tác phẩm của ông được công bố nhân dịp Triển lãm thế giới năm 1900, bao gồm 63 đầu sách, nghiên cứu và ghi chép.

Từ năm 1887-1889, ông cho xuất bản một loạt chuyên khảo về phong tục, truyền thuyết và các di tích của Bắc Kỳ như: Các truyền thuyết lịch sử Trung và Bắc Kỳ; Chùa ở Hà Nội. Khảo cổ học và Bắc Kỳ; Chùa ở Hà Nội qua nghiên cứu khảo cổ và văn khắc chữ nôm; Đại tượng phật ở Hà Nội. Nghiên cứu lịch sử, khảo cổ, văn khắc và khảo cổ học ở chùa Trấn Vũ, Văn Miếu ở Hà Nội.v.v…

Những ấn phẩm trên đã gây tiếng vang lớn ở Pháp và giúp Dumoutier được lựa chọn đi dự triển lãm ở Paris vào năm 1889 để tổ chức một trung tâm nghiên cứu dân tộc học, tôn giáo An Nam. Đặc biệt, người ta còn thấy ở đó “một ngôi chùa bằng gỗ quý, có một khu điện thờ phật, nơi các nhà sư công khai cử hành nghi lễ thờ cúng của họ”.

Từ năm 1890 - 1903, ông công bố một số công trình khảo cứu có giá trị về Việt Nam: Những bài hát và truyền thống dân gian của người Việt; Những biểu tượng và đồ thờ cúng của người Việt; Thuật phù thủy và bói toán của người Việt; Thuật phong thủy của người Việt; Truyền thuyết của người Việt về Phật và đạo Phật; Sách tu luyện của các nhà sư Việt Nam; Khảo cứu về xứ Bắc Kỳ; Đền Hai Bà; Các thương quán người Bồ ở Phố Hiến; Tường thành nhà Mạc; Khảo cứu về các tuyến đường thủy, đường bộ duyên hải, các cửa sông, hải cảng Việt Nam thế kỷ XV; Ghi chép về vùng Sông Đà và núi Ba Vì…

Ngoài ra, ông còn viết rất nhiều bài đăng trên báo Hải Phòng, báo Tương lai Bắc Kỳ.

Sau nhiều lần bị trù dập, năm 1903, Dumoutier làm đơn xin tạm thời nghỉ việc, nhưng đơn của ông bị bác và ông bị ép nghỉ hưu vào ngày 23/4/1904. Ông cho rằng quyết định trên là không chính đáng. Do bức xúc, suy nghĩ nhiều đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng sức khỏe, ngày 02/8/1904, Dumoutier từ trần do lâm trọng bệnh, trong nỗi cô đơn buồn tẻ tại Đồ Sơn, nơi ông lui về để dưỡng bệnh. Ông được chôn cất tại nghĩa trang Hà Nội, kế bên phần mộ của vợ mình.

Dumoutier là một học giả uyên bác, một nhà tiên phong mà cuộc đời ông là tấm gương sáng về tính quân tử. Ông không đáng phải chịu một kết cục bi thảm đến như vậy. Người ta trách ông vì cố chấp, thiếu tính khoa học trong các phương pháp nghiên cứu và đặc biệt là quá tin tưởng vào đội ngũ nho sĩ An Nam dẫn đến thiếu kiểm soát trong công việc.

Những chỉ trích này một phần là có cơ sở nhưng chúng ta cần ghi nhận những đóng góp to lớn của ông qua các công trình nghiên cứu mà ông đã thực hiện và nên nhớ rằng, trước khi ông tới Bắc Kỳ, hầu như chưa có bất kỳ bản ghi chép nào đề cập tới các di tích, truyền thuyết và phong tục của đất nước này.

Nguồn: Theo René Despierres đăng trên Tuần báo Đông Dương, số 220 ngày 16/11/1944, bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.

Hoàng Hằng - Minh Phúc (dịch)