10:21 PM 06/09/2020  | 

Mục đích “Bảo vệ và làm trong sáng ngôn ngữ An Nam, hỗ trợ các nhà văn tài năng trong việc giới thiệu và in ấn tác phẩm”. Đó chính là tiêu chí ghi rõ trong chương trình cuộc thi văn học do Hội Alexandre de Rhodes tổ chức.

Cuốn Tâm hồn cao thượng của dịch giả Hà Mai Anh

Bảo vệ ngôn ngữ An Nam chống lại cái gì? Chống lại tất cả những ai, dù cố ý hay không cố ý, làm cho ngôn ngữ An Nam mất đi thần thái riêng. Chống lại tất cả những ai không biết dùng từ An Nam, ngữ điệu An Nam, thành ngữ An Nam. Chống lại tất cả những ai, đặc biệt là những người còn vương vấn với văn hóa Trung Hoa, nhồi nhét những thành ngữ Hán-Việt thừa thãi, nặng nề và thiếu tự nhiên vào câu văn của mình. Chống lại tất cả những ai, do quá tôn sùng văn hóa Pháp, viết câu văn An Nam chỉ là văn Pháp giả trang đến từng câu, chữ. Chống lại tất cả những ai, người Pháp cũng như người An Nam, phủ nhận khả năng văn hóa của ngôn ngữ An Nam. Cũng chống lại tất cả những ai, mang nặng chủ nghĩa hẹp hòi và mù quáng đối với ngôn ngữ, cho rằng ngôn ngữ An Nam đã ngang bằng với các ngôn ngữ hoàn chỉnh.

“Làm trong sáng” bằng cách nào? Bằng cách tiếp xúc với ngôn ngữ Pháp, ngôn ngữ có tính văn hóa phổ quát, cung cấp cho ngôn ngữ An Nam sự mềm mại trong cú pháp, sự chặt chẽ, chính xác trong văn phong và kho tàng tư tưởng.

Để góp phần bảo vệ và làm trong sáng chữ An Nam, ngoài tờ tạp chí này, người ta đã lập ra các giải văn học hàng năm. Giải thưởng này không chỉ khuyến khích, hỗ trợ các nhà văn có tài mà còn trưng cầu ý kiến của giới văn hóa về những tác phẩm đạt giải.

Có hai giải: Giải Gia Long dành cho những tác phẩm xuất sắc viết bằng tiếng An Nam với thể loại hư cấu hoặc mang tính hàn lâm: tiểu thuyết, khảo luận, truyện ngắn, phóng sự, thơ.v.v… Giải Alexandre de Rhodes dành cho bản thảo hay nhất được dịch từ các tác phẩm bằng tiếng Pháp sang tiếng An Nam.

Kết quả

Tuy nhiên trong năm 1943, chất lượng các tác phẩm lại không như mong đợi. Số lượng nhiều hơn chất lượng và không có một tuyệt tác nào. Các thành viên trong Ban giám khảo hẳn là đã làm việc hết sức công tâm và trách nhiệm. Những người như Phạm Quỳnh, Chủ tịch Ban giám khảo, hiểu rõ là nếu muốn chống lại sự tầm thường thì không được nhân nhượng. Trong số 133 tác phẩm được gửi tới dự thi, chỉ có 9 tác phẩm đạt giải, trong đó giải ba của Giải Gia Long thuộc về tác giả Đỗ Thúc Vinh với cuốn tiểu thuyết Bóng Tre Xanh. Cuốn sách nghiên cứu khả tỉ mỉ về phong tục làng quê và phê phán gay gắt hủ tục tảo hôn. Nội dung và hình thức chuẩn. Văn phong giản dị và tự nhiên. Cốt truyện nhẹ nhàng nhưng hết sức cảm động.

Ngoài ra, còn có 2 giải khuyến khích của Giải Gia Long. Giải thứ nhất được trao cho ông Nguyễn Văn Tài ở Hà Nội, tác giả của bản thuyết trình Tinh thần khoa học khá hay, hình thức chuẩn nhưng nội dung đôi chỗ còn chưa sâu. Giải thứ hai thuộc về ông Nguyễn Đổng Chi ở Hà Tĩnh với cuốn tự truyện Đào Duy Từ. Đây là công trình của một nhà sưu tập uyên bác kết quả của việc nghiên cứu lâu dài và tỉ mỉ. Tuy nhiên, cách viết và kết cấu còn yếu.

Cuối cùng, 6 dịch giả đạt giải khuyến khích Giải thưởng Alexandre de Rhodes.

Với cách dùng các thể thơ khác nhau, ông Nguyễn Trịnh Vực ở Thanh Hóa đã có nhiều cố gắng trong việc dịch 100 bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Bản dịch uyển chuyển, tinh tế. Ông Vực có thể đạt giải nhì hoặc giải ba nếu không bị phát hiện ra những lỗi về âm luật.

Ông Lê Đoàn Vỹ ở Bắc Ninh với tác phẩm Hướng tới Khổng giáo mới của M.G.Bois, đề cập tới mối quan hệ giữa Khổng giáo và đạo đức Cơ đốc. Tuy nhiên, tác phẩm này khá trừu tượng, do đó, việc biên dịch khá vất vả. Bản dịch của ông Vỹ được đánh giá là trí tuệ song điểm yếu duy nhất đó là quá sát với nguyên bản.

Ông Dương Phụng Dực ở Hà Nội dịch một tác phẩm không chiếm được nhiều cảm tình của toàn bộ các thành viên giám khảo. Đó là cuốn Một trăm châm ngôn của Napoléon. Bản dịch khá tốt, trừ một số chỗ không sát nghĩa và hơi yếu, bản dịch này đáng ra có thể xếp hạng cao hơn.

Ông Hà Mai Anh ở Nam Định có ý tưởng tuyệt vời khi dịch cuốn Tâm hồn cao thượng của De Amicis, tác phẩm từng khiến bao trẻ em Pháp say mê, thích thú. Mặc dù đôi chỗ chuyển tải còn thiếu tinh tế, nhưng bản dịch lại mang tính trí tuệ cao.

Ông Trần Doãn Ngươn ở Biên Hòa dịch tác phẩm Hãy tạo dựng cơ đồ của Charles Richet. Bản dịch tuy khá tốt nhưng lại quá trung thành với nguyên bản.

Cuối cùng, ông Trần Văn Nghị ở Paksé (Lào) có ý tưởng tốt khi chọn dịch cuốn tiểu thuyết Anh đào của André Theuriet. Văn phong bản dịch lưu loát, nhưng đôi chỗ còn khá mơ hồ.

Phần lớn các tác phẩm ngang bằng, thậm chí cao hơn trình độ trung bình của các tác phẩm đã xuất bản bằng tiếng An Nam. Vì thế, những tác phẩm đạt giải được đánh giá là thực sự có giá trị. Chỉ có điều cuộc thi này chưa tìm ra được một tác phẩm nào thực sự xứng đáng để trao giải nhất.

Điều này cho thấy các bản thảo chỉ ở mức trung bình. Nhiều bản thảo có những suy luận còn ngô nghê. Đó là tác phẩm của những người mới vào nghề. Những người này mặc dù tuổi đời, tuổi nghề còn ít nhưng vẫn mạnh dạn gửi tác phẩm tới Hội.

Một số công trình khác là thành quả của những nỗ lực to lớn và thường xuyên nhưng lại chưa xứng tầm: phần lớn, văn phong vụng về, nội dung hời hợt, không có chiều sâu và thiếu sức lan tỏa. Nhiều bản dịch chưa được biên dịch, chuyển tải đúng mức.

Do không có tác giả nào đoạt giải nhất nên toàn bộ số số tiền thưởng của giải này được bổ sung vào các giải thưởng năm 1944. Như vậy, trị giá Giải Văn chương An Nam năm sau lên tới hơn 6.000 đồng. Ngoài ra, Hội cũng quyết định mở rộng giải cho các tác phẩm đã xuất bản từ năm 1941. Thật vậy, trước đây, quy định chỉ có những tác phẩm chưa xuất bản lần nào mới được dự giải đã tước đi cơ hội của nhiều tác giả. Điều này càng trở nên đáng tiếc hơn khi, gần đây, sau một thời gian mờ nhạt, một số nhà xuất bản đã cho ra mắt các tác phẩm bằng ngôn ngữ An Nam thực sự chất lượng, thu hút sự quan tâm của đông đảo công chúng.

Nguồn: Tạp chí Đông Dương, số 176, ngày 13/01/1944.

Hoàng Hằng - Minh Phúc (lược dịch)