07:21 PM 17/02/2021  | 

Sơ đồ hệ thống thủy nông vùng châu thổ Bắc Kỳ năm 1943. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia 1

I - ĐẶT VẤN ĐỀ

Lụt lội, hạn hán là mối hiểm hoạ thường trực đe doạ người dân Bắc Kỳ, nhất là các nhà nông. Vì thế, các công trình thuỷ nông trở thành mối quan tâm hàng đầu nhằm ngăn chặn tình trạng dư thừa hoặc thiếu nước và làm gia tăng diện tích đất canh tác.

Chưa từng có một tác giả nào đặt ra vấn đề này tốt hơn những gì mà Bigorgne đưa ra trong lời nói đầu tại công trình nghiên cứu của ông về hệ thống thủy nông tại Bắc Kỳ công bố trên “Nguyệt san kinh tế Đông Dương” (1938):

“Bắc Kỳ chịu sự chi phối của chế độ gió mùa. Khí hậu Bắc Kỳ mang đặc trưng của hai mùa rõ rệt, một mùa mát và khô từ tháng 10 đến tháng 4, một mùa nóng và mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 9.

Nhờ có “mưa phùn” và sự bay hơi nước với lưu lượng lớn trong mùa đông, người nông dân vùng châu thổ, mà với họ lúa là cây trồng chính, vẫn nỗ lực trồng 2 vụ/năm, vụ chiêm là tháng 5 âm lịch và vụ mùa là tháng 10 âm.

Tuy nhiên, khí hậu - nhân tố khá quan trọng đối với ngành nông nghiệp lại có diễn biến khá thất thường, một phần do lượng mưa không đều trong cùng một năm và từ năm này sang năm khác, mặt khác cũng bởi sự phân bổ lượng mưa đó trong cùng một giai đoạn trồng trọt, do vậy, trong trường hợp mùa đông quá khô hoặc mùa hè có quá nhiều mưa, các vụ mùa tương ứng thường bị thiệt hại hoặc mất trắng…

Trong điều kiện này, các công trình tưới tiêu và tháo khô sẽ mang lại nhiều thuận lợi, đó là phòng chống tình trạng thừa thiếu nước; giúp điều tiết và đảm bảo cho vụ mùa vẫn diễn ra trong các năm bình thường và cải thiện năng suất.

Từ xa xưa, các hoàng đế An Nam luôn quan tâm tới việc khắc phục tình trạng thiếu nước tưới vào mùa khô và tháo nước vào mùa lũ. Ban đầu, họ tập trung tạo dựng các khu dự trữ nước để phục vụ cây trồng tháng 5. Năm 1833, Minh Mạng đặc biệt chú trọng tới việc đào hệ thống kênh tháo khô và tưới nước cùng với các công trình khai thác nước trên sông Hồng và các nhánh sông của nó. Tuy nhiên, kết quả đạt được còn khá hạn chế do chưa có kế hoạch đồng bộ, không có thiết kế, việc thi công chỉ ở tầm trung song chi phí lại quá cao.

Ngay khi đến Bắc Kỳ, người Pháp đã theo đuổi sự nghiệp của các hoàng đế An Nam bằng việc hoàn thiện và thi công các công trình phòng chống lũ lụt, hệ thống kênh mương và nhiều công trình khác nữa. Các Uỷ ban đê điều tối cao, Uỷ ban thuỷ nông, Uỷ ban chống đói nghèo.v.v... lần lượt được thành lập; hàng loạt dự thảo, báo cáo được soạn thảo một cách vội vã, không phù hợp với điều kiện địa lí và chỉ dựa vào việc đo thuỷ chuẩn chưa từng có tiền lệ nên đã bị thất bại.

Chỉ đến năm 1905, các cơ quan có thẩm quyền mới chuẩn bị các bước cần thiết để lập nên những dự án nghiêm túc”.

II. NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ THỰC HIỆN

Hệ thống thuỷ nông Kép được xây dựng từ 1896-1914. Kết quả: trên 10.000ha đất được dùng để canh tác;

Hệ thống thuỷ nông Sông Cầu xây dựng vào những năm 1922-1936. Kết quả: diện tích đất trồng vụ chiêm tăng từ 2.000 lên 21.000ha;

Hệ thống thuỷ nông Vĩnh Yên được thi công và hoàn thành trong giai đoạn 1914-1922. Kết quả: 13.000ha đất đã được khai khẩn.

Hệ thống thủy nông Sơn Tây được thi công từ 1928-1932. Kết quả: gần 7.000ha đất nông nghiệp được đưa vào khai thác.

Ngăn thủy nông Nam Thái Bình: được thực hiện từ 1931-1934 với nhiệm vụ tiêu nước chống úng. Kết quả: với diện tích 55.000ha, ngăn thủy nông lớn này cho phép nhà nông có thể canh tác 2 vụ trên tổng số 46.000ha.

Ngăn thuỷ nông Bắc Thái Bình quy hoạch vào năm 1933. Kết quả: điều tiết được toàn bộ vụ chiêm bằng cách bảo vệ đê, chống lụt.

Ngoài ra, việc quy hoạch các bãi bồi ven biển Mễ Lâm, Bạch Long (Nam Định), Văn Hải (Ninh Bình) giúp cho hàng ngàn ha đất nhiễm mặn trở thành đất canh tác.

Ngăn thuỷ nông An Dương-Kim Thành đã được cải tạo cho phép tăng vụ trên 4.000 ha;

Ngăn thuỷ nông Bắc Bắc Ninh - Do ruộng đất cao thấp không đều nên vùng này được đắp bờ vùng để chia thành 5 ngăn nhỏ và trang bị 7 đập điều tiết mực nước. Sau khi quy hoạch, người dân trồng cấy thêm từ 3.000-4.000 ha.

Ngăn thuỷ nông Ngô Đồng (Thái Bình) đảm bảo cho 1.600ha diện tích đất canh tác có khả năng chịu hạn hán vào tháng 5 và tình trạng ngập úng quá dài vào tháng 10.

III. – CÁC CÔNG TRÌNH ĐANG THI CÔNG

Ngăn thuỷ nông Hà Đông-Phủ Lý - Với diện tích khoảng 110.000 ha, ngăn thuỷ nông này gồm toàn bộ phần đất nằm từ bờ phải sông Hồng, bờ trái sông Đáy cho đến kênh đào Phủ Lý cũ, thuộc tỉnh Hà Đông và Phủ Lý. Vào mùa hè, khoảng 50.000 ha đất tại ngăn thuỷ nông này bị ngập úng do nước mưa không thể tháo ra sông Đáy cũng như sông Hồng do lũ.

Những công trình thuỷ lợi chính được dự kiến gồm:

1. Xây đập trên sông Đáy cạnh hợp lưu của nó với sông Hồng nhằm xoá bỏ hoàn toàn hoạt động giao thông giữa sông Hồng và sông Đáy vào thời điểm nước dâng cao.

2. Xây dựng hệ thống kênh tháo khô nhằm mục đích dẫn nước mưa về điểm thấp nhất của ngăn thủy nông (Phủ Lý) và lưu thông nó thông qua một công trình tháo nước tại sông Đáy. Từ đây, người ta hoàn toàn có thể gieo trồng vụ mùa trên những vùng đất trũng.

3. Xây dựng công trình khai thác nước trên sông Hồng ở phía trên ngăn thuỷ nông và một hệ thống tưới nước nhằm đảm bảo cho các khu đất gieo trồng vụ mùa được tháo khô và cung cấp đủ nước cho vụ chiêm.

Đó là một số định hướng chính trong chương trình đã được soạn thảo. Một khi chương trình này được thực hiện sẽ đảm bảo cho khoảng 50.000 ha có thể tăng vụ mùa và điều tiết vụ chiêm trên cùng diện tích này nhờ vào lượng nước vừa đủ.

Đập Đáy là công trình chính nằm trong số những công trình này, được xây dựng và hoàn thiện từ 1934-1937. Đây là đập-cửa kiểu mái nhà lớn nhất thế giới: với 7 cửa, chiều rộng 1 cửa 33,75m; bê tông 31.000m3; móng đá ngầm 3.000m3; thép 2.000 tấn.

Ngoài ra, hầu hết các công trình lớn nằm trong dự án cũng như hệ thống đê ngăn đều đã hoàn thành. Một số công trình: đường gom và hệ thống bơm hút phụ trợ sẽ do người dân trực tiếp làm.

Vậy lợi ích của công trình quy hoạch đã thực hiện là gì? Một mặt, nó làm gia tăng đáng kể các vụ mùa nhờ việc tháo khô nước trong mùa mưa và tưới nước trong mùa khô. Mặt khác, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển nông sản và vật liệu xây dựng… bằng đường sông.

Ngăn thuỷ nông Nam Nam Định (30.000 ha) - Việc quy hoạch ngăn thuỷ nông này diễn ra từ rất sớm nhưng tới năm 1943 mới hoàn thành, giúp gia tăng sản lượng thóc và lợi nhuận ròng thu được hàng năm cao hơn tổng số vốn đầu tư.

Ngăn thuỷ nông Bắc Thái Bình - Sau khi triển khai, sản lượng nông nghiệp tăng lên 100.000 tấn/năm, nghĩa là tăng hơn 40% so với sản lượng hàng năm của tỉnh.

Ngăn thuỷ nông Ninh Bình - Với diện tích 30.000 ha, ngăn thuỷ nông này hẳn là sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động canh tác. Việc nạo vét các kênh rạch tiêu nước hứa hẹn sẽ gia tăng diện tích đất canh tác từ 4.000 - 5.000 ha.

IV. CÔNG TRÌNH DỰ KIẾN

Ngăn thuỷ nông Chương Mỹ và Mỹ Đức. Với diện tích 35.000 ha, ngăn thuỷ nông này nằm tại tỉnh Hà Đông, đoạn từ sông Đáy và khu vực miền núi ngăn cách lưu vực sông Đáy với hạ lưu sông Đà. Nhờ vào những công trình dự kiến, sẽ có khoảng từ 20.000-25.000 ha có thể trồng được vụ lúa mùa.

Ngăn thuỷ nông Nho Quan có diện tích 15.000 ha và phụ thuộc vào lũ sông Đáy. Đập và các công trình dự kiến sẽ cho phép cải tạo khoảng 8.000ha - hiện không trồng cấy được.

Ngăn thuỷ nông Bắc Nam Định. Với diện tích 85.000 ha, vị trí của ngăn thuỷ nông này có thể so với vị trí của ngăn thuỷ nông Hà Đông-Phủ Lý. Nhờ các công trình tưới nước và tháo khô, hơn 40.000 ha đất ngập úng có thể trồng vụ mùa và 7.000 ha đất trồng khô hạn có thể trồng vụ chiêm.

Ngăn thuỷ nông Nam Nam Định (25.000 ha). Việc quy hoạch ngăn thuỷ nông này sẽ mang lại 7.000 ha đất để gieo trồng cho vụ mùa tháng 10.

Trong tương lai, những công trình sau đây sẽ được quy hoạch: Ngăn thuỷ nông Nam Sách, Kinh Môn, Thanh Hà, Kiến An, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, bờ sông Thái Bình; Kẻ Sặt-Hưng Yên và Nam Bắc Ninh; Chu… cho phép hoàn thiện công trình khổng lồ do Chính quyền Pháp thực hiện tại Bắc Kì.

Để kết luận bài viết, chúng tôi xin nêu ước tính do ông Bigorgne đưa ra năm 1938, sản lượng hoa màu có thể kỳ vọng từ các công trình dự kiến lên tới 665.000 tấn thóc/năm. “Nếu căn cứ vào 300-325 kg thóc cho một khẩu phần trung bình hàng năm của người nông dân An Nam, có thể thấy rằng những công trình này cho phép nuôi được 2.000.000 người dân và vì thế, nó có thể đáp ứng được lượng dân số gia tăng trong thời gian từ 20 đến 25 năm nữa”.

 

Nguồn: Tạp chí Đông Dương, số 146 ngày 17/6/1943, bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.

Hoàng Hằng (dịch)