06:09 PM 21/09/2020  | 

Khởi nghĩa Yên Thế do Đề Nắm, sau này là Hoàng Hoa Thám đứng đầu là cuộc khởi nghĩa chống Pháp vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 kéo dài lâu nhất (1883-1913), khiến thực dân Pháp lo ngại và bị thiệt hại nhiều nhất.

Chân dung Đề Thám trên báo Pháp

Các cuộc đàn áp của quân Pháp ở khu vực Yên Thế

Ngày 17/03/1884, tướng Brière de l’Isle chiếm Thái Nguyên và điều một toán quân Pháp về Yên Thế để chiếm Tỉnh Đạo, gần Nhã Nam. Nhưng vì sau đó Pháp cần số quân này cho các cuộc tấn công vào Hưng Hóa nên buộc phải rút hết khỏi Yên Thế.

Năm 1885, ba thiếu tá Bergougnioux, Pfeiffert, Schaëfert và trung tá Dugene tiếp tục cho quân tấn công Phủ Lạng Thương, Bắc Ninh, Lục Nam và đụng độ với nghĩa quân ở khu vực Yên Thế Hạ, với quân nhà Thanh ở Yên Thế Thượng. Trung tá Dugene chỉ huy 300 quân có pháo binh yểm trợ càn quét đàn áp khắp vùng, phá hủy một căn cứ của nghĩa quân ở Hữu Thượng và ở mỏ Na Lương, lập đồn binh ở Tỉnh Đạo năm 1885. Những năm sau đó, Pháp xua quân đi trinh sát các tuyến đường tiếp cận khu căn cứ của nghĩa quân. Năm 1889, quân Pháp đóng ở Tỉnh Đạo được điều tới Đạo Quán để xây đồn Bố Hạ. Tháng 10/1889, quân do hai thiếu tá Dumont và Piquet tiến hành đàn áp cuộc tấn công của Đốc Văn (Vân ?), thủ lĩnh nghĩa quân ở Bắc Ninh (ông bị bắt và bị hành quyết tháng 11/1889). Sau đó, Pháp lập bốt đồn binh ở Bỉ Nội và đánh chiếm lại Hà Châu.

Từ cuối năm 1890, nhiều đợt tấn công đàn áp của Pháp nhằm vào các nghĩa quân do Bá Phức, Đề Nắm chỉ huy. Đợt thứ nhất, ngày 06/11/1890, tướng Godin chỉ huy quân đánh chiếm Cao Thượng, lập đồn binh ở Nhã Nam, gần vị trí cũ của đồn Tỉnh Đạo. Đầu tháng 12/1890, quân Pháp trinh sát và mật báo phát hiện các căn cứ nghĩa quân đóng gần khu vực Hố Chuối (tài liệu Pháp ghi là Huu Thué) nên Pháp quyết định mở đợt tấn công thứ 2. Ngày 9 và 11/12/1890, đại úy Plessier và thiếu tá Barre chỉ huy quân Pháp định bất ngờ tấn công nghĩa quân ở Hố Chuối nhưng thất bại, Pháp bị thiệt hại nặng, nhiều lính bị giết và bị thương. Đây cũng là thời gian Đề Thám bắt đầu thay Bá Phức lúc này đã già yếu chỉ huy nghĩa quân với khoảng 500-600 súng trường trong tay. Ngày 22/12/1890, trung tá Winckel Mayer ba lần chỉ huy quân tấn công đồn Hố Chuối nhưng bất thành, 1 sĩ quan, 4 lính người Âu và 4 lính bản xứ bị giết, 15 lính Âu và lính bản xứ bị thương nên phải rút về Nhã Nam.

Một số tư liệu Pháp[1] miêu tả, đại ngàn Yên Thế năm 1891 che chở cho các căn cứ nghĩa quân gồm 3 nhóm chính nằm dọc bờ sông Sỏi, dựa lưng vào dãy núi Cai Kinh và án ngữ trên còn đường từ Bố Hạ qua Đồng Kỳ đi Mỏ Trạng. Phía đông là đồn do Đề Nắm đóng giữ bao quanh bởi 6 đồn khác, phía nam là đồn Đề Dương hay Đề Thám với 3 công sự lớn tạo thành cụm cứ điểm riêng biệt, tây bắc là đồn Bá Phức (tức Thân Văn Phức). Phía sau của đồn Đề Dương theo hướng đồn của Đề Nắm là hào lũy dài 2 km, ngăn bởi vùng đầm lầy có bờ được cắm chông tua tủa. Để bao vây các căn cứ khởi nghĩa, Pháp dựng các bốt binh ở Nhã Nam, Luộc Hạ, Bố Hạ án ngữ rìa Yên Thế.

Bố trí các đồn của nghĩa quân Yên Thế năm 1891

Quân Pháp triển khai đợt tấn công thứ ba, khốc liệt hơn để trả thù cho các thất bại trước đó. Ngày 01/01/1891, đại tá Frey tập trung quân ở Nhã Nam với âm mưu quét sạch căn cứ nghĩa quân ở Hố Chuối. Quân Pháp chia thành ba toán, toán 1 tập trung tại Luộc Hạ, toán 2 ở Làng Sái và toán 3 là quân dự trữ cũng đóng ở Luộc Hạ. Toán quân 1 và 2 có nhiệm vụ đánh chiếm các vị trí của nghĩa quân gần đồn Hố Chuối, ngày 03/01, toán 1 chiếm làng Mạc, toán thứ 2 chiếm Hu Thuong[2]. Ngày 08/01, chúng dùng súng cối tấn công nghĩa quân nhưng đạn không nổ. Ngày 09/01, chúng tấn công trở lại bằng súng cối, đốt một ngôi làng nằm trong thung lũng Hố Chuối, và sau nhiều đợt tấn công liên tiếp ngày 11/01, chúng chiếm được căn cứ Hố Chuối nhưng hứng chịu thiệt hại nặng : 2 sĩ quan bị giết và hai sĩ quan khác bị thương, 6 lính Âu bị giết 25 lính khác bị thương, 6 lính khố đỏ bị giết và 15 lính khác bị thương. Nghĩa quân buộc phải rút về phía bắc để sốc lại lực lượng.

Ngày 07/12/1891, tướng Voyron được giao nhiệm vụ nhổ sạch các căn cứ của Đề Nắm và Bá Phức, vây ráp, truy sát nghĩa quân và giành quyền kiểm soát khu vực này ngăn nghĩa quân tập hợp trở lại. Voyron cho vây hãm bên ngoài Yên Thế ở tuyến đồn binh phía nam Nhã Nam, Luộc Hạ, Bố Hạ với quân chi viện ở lô cốt suối Sặt chặn mọi di chuyển cũng như tiếp tế cho nghĩa quân, sau đó chia thành hai hướng tấn công. Hướng thứ nhất di chuyển ở hữu ngạn sông Sỏi, xuất phát từ tuyến Nhã Nam-Luộc Hạ và chia thành 3 toán nhỏ nhằm phô trương lực lượng đánh lạc hướng nghĩa quân, hướng thứ hai tập trung ở Bố Hạ, sau đó di chuyển ở tả ngạn sông Sỏi tiến về hướng Bố Hạ- Na Sa[3]để đến ngọn núi có thể giúp quan sát một phần căn cứ của Đề Nắm, và pháo binh Pháp được lệnh đóng tại núi này chờ đợt tấn công quyết định. Hướng thứ hai được lệnh chỉ hành động sau khi hướng thứ nhất đánh lạc hướng thành công nghĩa quân. Voyron rất lo lắng về liên lạc giữa hai hướng quân trong điều kiện rừng rậm nên ra lệnh quân đóng ở Bố Hạ-Luộc Hạ-Nhã Nam dùng ánh sáng để liên lạc với quân đóng tại các đồn binh ở Quỳnh Lưu và Thái Nguyên. Những chiếc đèn Lamarre (mà pháo binh Pháp thường dùng), hỏa lực Colston và hai hỏa tiễn báo hiệu dùng để báo hiệu vị trí đóng quân trong rừng vào ban đêm được tiếp tế cho hai hướng quân này, thêm vào đó, Voyron còn thận trọng chỉ thị cho lính dùng những tín hiệu đặc biệt để nhận biết lẫn nhau. Ngoài ra, do phải hành quân và tấn công trong điều kiện địa hình rừng núi, cả lính Âu lẫn lính bản xứ đều được phát dao phát quang rừng. Quân Pháp bắt đầu vây hãm và tấn công Yên Thế từ ngày 12 đến ngày 30/3, khiến nghĩa quân bị thiệt hại nặng nề và phải rút sâu vào trong rừng để củng cố lực lượng.

Giảng hòa lần thứ nhất và các cuộc tấn công lớn của nghĩa quân năm 1895

Ngày 19/05/1894, nghĩa quân Đề Thám thắng Pháp trong trận Hố Chuối và tháng 9/1894, tấn công gần Bắc Lệ chiếm vũ khí trên đoàn xe lửa khởi hành từ Lạng Sơn. Biết chưa thể dập tắt được cuộc khởi nghĩa, ngày 23/10/1894, Pháp chấp nhận giảng hòa, cắt nhượng cho nghĩa quân bốn tổng thuộc Yên Thế là Mục Sơn, Yên Lễ, Nhã Nam và Hữu Thượng nhưng cũng đưa yêu sách như yêu cầu Đề Thám giải tán nghĩa quân, giúp tiếp xúc với hai thủ lĩnh khởi nghĩa là Thống Luận (tức Thân Đức Luận ) và Thống Trứ-hai đầu lĩnh của Đề Thám hoạt động quanh khu vực tuyến đường sắt ở Tam Đảo, song luôn vấp phải thái độ hòa hoãn của Đề Thám. Giảng hòa trên danh nghĩa, nghĩa quân tận dụng khoảng thời gian đầu năm 1895-giai đoạn chuyển giao quyền lực giữa hai toàn quyền Đông Dương là Jean-Marie deLanessan và Armand Rousseau để liên tiếp tấn công quân Pháp cũng như chính quyền tay sai.

Tháng 2/1895, Đề Nguyên tấn công đồn binh Tam Đảo, giết lính điện đài Holley và bắt giữ Sabot đem về căn cứ của Phùng Bá Chỉ (tức Ba Kỳ) ở Kẻ Thượng. Đêm ngày 23/03/1895, Thống Luận chỉ huy 40 nghĩa quân Yên Thế dùng thuyền bất ngờ tấn công quân Pháp ở Phả Lại[4]. Đêm ngày 30/4/1895, quân khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Đốc Thu cùng em trai Đốc Xuyết có sự tham gia của một viên đội tấn công thành Bắc Ninh, giết lính đưa thư là người bản xứ, tấn công và giết 2-3 lính cơ, nhân viên thuế đoan Moulhaud, hai hiến binh Verdene và Jean. Tháng 2/1895, tân Toàn quyền Đông Dương Armand Rousseau đặt chân đến Đông Dương và 15 ngày vừa chân ướt chân ráo nhậm chức, ông ta ra lệnh phải mạnh tay đàn áp cuộc khởi nghĩa. Trong vòng 18 ngày, từ 16/04 đến 04/05/1895, quân Pháp hoàn toàn làm chủ Kẻ Thượng, đàn áp hoàn toàn quân khởi nghĩa do Ba Kỳ lãnh đạo, nhân viên điện đài Sabot được toán quân do viên chỉ huy đồn Bắc Cạn- đại úy Bulleux giải cứu. Ba Kỳ thoát khỏi vòng vây của quân Pháp ở Kẻ Thượng cùng số nghĩa quân còn lại tập trung về Yên Thế. Tháng 4/1895, Đốc Thu- chỉ huy nghĩa quân hoạt động ở Bắc Giang[5]- tỉnh vừa mới được thành lập với thủ phủ là Phủ Lạng Thương[6] tấn công giết chết hai hiến binh và một nhân viên thuế đoan người Pháp ở Bắc Ninh.

Yên Thế năm 1891

Kỳ II.Pháp vây ráp, đàn áp khởi nghĩa cuối năm 1895


[1]. Theo cuốn « Nghĩa quân Hoàng Thám » (Hoang Tham pirate), Paul Chack, nhà xuất bản Pháp, 1933 ; « Tạp chí lực lượng thuộc địa » (Revue des troupes coloniales) số 01/07/1910, tờ « Tương lai xứ Bắc Kỳ » (Avenir du Tonkin) số ra ngày 04/12/1895.

[2] .Không rõ đây là địa danh nào ở huyện Yên Thế ngày nay.

[3]. Không rõ đây là địa danh nào ở huyện Yên Thế ngày nay.

[4]. Theo các tư liệu Pháp đã chú thích ở trên.

[5]. Tỉnh Bắc Giang được thành lập theo nghị định ngày 10/10/1895 của toàn quyền Đông Dương, trên cơ sở tách hai phủ Lạng Giang, Đa Phúc gồm 6 huyện Kim Anh, Hiệp Hòa, Phượng Nhãn, Việt Yên, Yên Dũng, Yên Thế từ tỉnh Bắc Ninh và đặt dưới sự kiểm sát của 423 lính khố đỏ, 327 lính cơ.

 

Ngọc Nhàn