10:27 PM 04/07/2021  | 

Từ thời chúa Nguyễn, Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành được coi là ấn truyền quốc, đương thời và về sau gọi là Tiểu long bảo, đóng ở đầu văn bản cùng Kim bảo Quốc gia tín bảo đóng trên dòng niên đại.

Hình ảnh núm ấn, mặt ấn và hình dấu Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành đúc thời Hoàng đế Gia Long © Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đúc hai Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành 取信天下文武權行, đều có hình chữ nhật, mặt ấn khắc 8 chữ Triện xếp 2 hàng, mỗi hàng 4 chữ, diềm ngoài có 2 hình rồng uốn chầu vào 2 quẻ Càn và Khôn.

Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành gồm có hai chiếc: một chiếc đúc “năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709), 1 cấp hình chữ nhật, quai hình tượng kỳ lân ngồi chầu đặt ở chính giữa theo chiều dài ấn, đầu ngẩng nhìn về phía trước, 2 chân trước chống, 2 chân sau quỳ. Kỳ lân có râu dài, dọc lưng chạm khắc văn mây”[1]; một chiếc đúc năm Gia long thứ nhất (1802), “quai rồng tư thế đứng, đầu quay lại, lưng cong, đuôi vút, miệng ngậm ngọc, chân 5 móng” [2].

Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đang bảo quản hai hiện vật Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành đúc từ đời chúa Nguyễn Phúc Chu và triều Vua Gia Long. Nhìn chung, hình dấu (đế ấn) của hai hiện vật này có tự dạng, bố cục và trang trí giống nhau: Hình chữ nhật, bên trong khắc 8 chữ Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành bằng lối Triện thư, dễ đọc, viền trang trí hai hai con rồng nhỏ chầu quẻ Càn và quẻ Khôn.

Sau khi so sánh hai Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành đúc từ đời chúa Nguyễn Phúc Chu và triều Vua Gia Long giới thiệu trong sách Kim ngọc Bảo tỷ của Hoàng đế và Vương hậu triều Nguyễn Việt Nam của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành được đóng trên đầu các đạo chiếu văn, dụ chỉ thuộc khối Châu bản triều Nguyễn, có thể khẳng định Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành hiện lưu trên Châu bản triều Nguyễn là đúc dưới thời Vua Gia Long.

Chính sử chỉ ghi Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành là đúc dưới triều Gia Long và trên Kim bảo này không ghi rõ thời gian đúc ấn. Tuy nhiên, qua khảo sát trong Châu bản triều Nguyễn chúng tôi thấy hình dấu này đóng trên bản chiếu ngày 22 tháng Giêng năm Gia Long thứ 2 (1803) của Hoàng đế về việc soạn lại các sách của dân Man[3]. Như vậy, Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành được đúc vào năm Gia Long thứ nhất (1802).

Sau khi Minh Mệnh nối ngôi, thấy Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành chỉ đóng chỗ giấy bỏ không ở đầu trang, phần niên hiệu vẫn dùng dấu Quốc gia tín bảo là nặng về hình thức nên bỏ không dùng. Nhà vua ban dụ vào năm Minh Mệnh thứ 9 (1828): “… trừ lệ trước ban cấp chiếu văn ở đầu tờ giấy đều đóng ấn Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành. Xét ở điển lệ, phàm đóng ấn chỉ đóng ba chỗ niên hiệu thôi, nguyên không có đóng ở đầu giấy. Vậy nay cũng cho thôi hẳn[4].

Bản kê ngày 29 tháng 5 năm Minh Mệnh 10 (1829) của Bộ Lễ ghi chép: “vâng soạn 2 bức quốc thư, dùng 2 con dấu Quốc gia tín bảo, 2 con dấu Tiểu long chu bảo, và dùng 4 con dấu Văn lý mật sát. Đều có bản thảo nộp. Nay vâng biên soạn”[5]. Đây là minh chứng khẳng định, triều Nguyễn vẫn còn sử dụng Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành với tên gọi Tiểu long bảo vào năm 1829, tức sau 1 năm nhà Nguyễn ban chỉ thị dừng sử dụng Kim bảo này.

Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành đóng ở đầu bản chiếu ngày 18 tháng Tư năm Gia Long 10 (1811) của Hoàng đế về việc giảm thuế cho dân tại trấn Bình Hòa.© TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn

 

Kim bảo Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành dùng song song với Kim bảo Quốc gia tín bảo dưới thời Vua Gia Long trị vì (1802-1819. Sau cuộc cải cách hành chính dưới thời Vua Minh Mệnh thì hai Kim bảo này ít dùng hơn, tuy nhiên vẫn được gìn giữ đến đời Vua Bảo Đại.

Theo nghi thức, mỗi năm một lần, triều đình nhà Nguyễn làm lễ Phất thức vào ngày tốt cuối năm, đem ấn vàng ấn ngọc và các bảo vật khác ra lau chùi sạch sẽ, xong niêm phong lại, cất đi, để chuẩn bị đón năm mới. Lễ này thường diễn ra vào hạ tuần tháng Chạp (từ ngày 20 trở đi). Khâm thiên giám chọn ngày tốt và Nội các lập danh sách những người tham dự để trình lên Vua quyết định. Chỉ có các hoàng thân, các quan văn, võ vào hàng nhất, nhị phẩm, nhân viên Viện Cơ mật và Nội các là trong số những người được đề nghị.

Nguồn sử liệu gốc - Châu bản triều Nguyễn vẫn còn lưu lại những ký ức thực hiện Lễ phất thức cuối cùng của triều Nguyễn, đó là bản tấu ngày 19 tháng Chạp năm Bảo Đại 19 (01.02.1945) của Ngự tiền văn phòng: “phụng chiếu cuối năm có lệ phất thức và tôn trí các hạng bảo tỷ, đã tư cho Khâm thiên giám chọn ngày tốt. Nhận được phúc trả lời rằng 26 tháng này là ngày hiệp cát, nay xin theo lệ đến ngày ấy làm lễ phất thức trong điện Càn Thành[6].

Như vậy, đến trước khi triều Nguyễn cáo chung, kim bảo tỷ vẫn được bảo quản trong điện Càn Thành và thực hiện các nghi lễ theo quy định.


[1] Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Kim ngọc bảo tỷ của Hoàng đế và vương hậu triều Nguyễn Việt Nam, H.2009.

[2] Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Kim ngọc bảo tỷ của Hoàng đế và vương hậu triều Nguyễn Việt Nam, H.2009.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn.

[4] Nội các triều nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 8, Nxb Thuận Hóa, 2005, tr. 31.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn.

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn.

Thu Thủy – Phòng Phát huy giá trị tài liệu