07:44 PM 04/04/2021  | 

Bài viết của Paul Boudet, Giám đốc Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương (Directeur de la Diection de Archives et des Bibliothèques de l’Indochine) trên “Tuần báo Đông Dương có minh họa” (Indochine hebdomadaire illustrée) với nhan đề “Nam Giao, Lễ tế Trời và Đất” (Le Nam giao, sacrifice au ciel et à la terre). Bài viết này nằm trong hồ sơ số 2148 của phông tài liệu “Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương” hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I - Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước. Chúng tôi dịch những đoạn đề cập cụ thể về buổi lễ, xin giới thiệu với bạn đọc.

Long tượng dẫn đầu đám rước trên đường tới Đàn Nam Giao, ảnh sưu tầm

Trong đêm ngày 28 tháng 3 năm 1942, tức là vào ngày 13 tháng 02 năm âm lịch Nhâm Ngọ (nguyên văn tiếng Pháp “l’année du Cheval”), vua Bảo Đại tổ chức lễ tế Nam Giao theo nghi lễ truyền thống của riêng nước Việt Nam còn giữ được từ bao đời nay.

Giữa những dãy thông reo vi vu như ca hát, trên một gò đất cao như quả núi nhỏ, trong một ngôi đền với những ngọn lửa cháy bập bùng, lễ tế Nam Giao được tổ chức tại đây.

Sau ba năm kể từ lần lễ trước (nguyên văn tiếng Pháp “triennale aujourd’hui”), lần này lễ tế Nam Giao được tổ chức không khác trước đây: các chi tiết được sắp đặt rất tỉ mỉ, việc chuẩn bị rất dài và nhiều, gồm có: chuẩn bị rất nhiều thanh gỗ thơm để đốt trong đêm lễ, chọn con vật để tế như: nghé, dê, lợn…Để quyết định về ngày lễ thì viên quan giỏi về địa lý của Triều đình phải tra cứu các bộ sách, xem thiên văn để chọn lấy ba ngày đẹp rồi trình vua chọn lấy ngày đẹp nhất lầm lễ.

Để thỉnh cầu trời, đất, thánh thần về dự ngày lễ thì một tháng truớc ngày lễ, giữa đêm, một viên quan phẩm hàm cao của Triều đình mặc triều phục, gồm có: áo, mũ, lên mô đất cao nơi đặt đàn làm lễ tế Nam Giao đốt những thanh gỗ thơm và cầu khấn vong hồn của các vị Tiên đế coi như các đấng thần linh bảo hộ được mời về dự lễ tế Nam Giao; trên bàn thờ đặt đồ cúng, tế, như: hương, nến, rượu, trầu, tiền vàng..

Cùng được chọn vào làm chủ lễ với các viên quan phẩm hàm cao của Triều đình (do nhà Vua phê chuẩn theo tấu trình của Bộ Lễ trong các ngày lễ) là các thanh niên trẻ chưa có vợ, chồng. Nhà Vua khi vào lễ cũng cầm trên tay một pho tượng đồng nhỏ đặt trên một mâm gỗ có viết chữ “chay tịnh”, “tinh khiết”.

Theo truyền thống của Trung Quốc thì bức tượng đồng xanh tương ứng với ngọc và có nguồn gốc từ bức tượng nhỏ của Hoàng cung - vật được coi như thần hộ mệnh. Trước khi vào làm lễ, đàn tế được trang trí lại lần nữa: những bó gỗ thông được đốt sáng bập bùng, hai đàn tế được sơn một màu xanh nhạt, một màu vàng, giàn thiêu được dựng lên, các bó đuốc được đốt lên sáng rực, đồ lễ được bày lên. Trên suốt dọc đường đi của đoàn rước được cắm những lá cờ đuôi nheo cỡ lớn hàng mét nhiều màu sắc: tía, xanh, vàng…bay phần phật trước gió, những chuỗi hoa nhiều màu được kết trên đường phố dưới các tán lá: vàng, đèn và nhiều bàn thờ của nhân dân làm bằng gỗ, sơn son dựng suốt hai bên đường bày các loại hoa quả, đốt hương thơm ngào ngạt.

Vào buổi sáng ngày lễ chính, viên quan phẩm hàm cao của Triều đình hướng dẫn đoàn rước tập trung tại sân Đại Nội trước cửa Ngọ Môn. Vua mặc áo tế bằng lụa màu vàng rực, rời cung điện lên ngồi trên ngai. Viên Thượng thư Bộ Lễ đến quỳ lạy trước nhà Vua rồi truyền cho một viên quan phẩm hàm cao trông coi việc gác thành nội vào cúi lạy Vua và nói rằng: “Nhà Vua sẽ tạm thoát tục trong mấy giờ sống cùng thần, thánh để cầu chúc cho muôn dân”. Nhà vua uỷ quyền cho vị phó vương để sống cuộc sống siêu nhiên (sur naturelle) trong những ngày lễ.

Đoàn xa giá nhà vua, ảnh sưu tầm

Đoàn rước dài đi từ từ trong khoảng 03 tiếng đồng hồ, dọc theo sông Hương, sau đó đi qua khu người Âu rồi vào khu dân cư trong khắp thành phố. Kinh thành Huế yên tĩnh và êm đềm, tráng lệ với những lăng tẩm của các bậc Tiên Vương bỗng rộn lên tiếng trống rước, tiếng nhạc giữa thời khắc Kinh thành đang chìm trong giấc ngủ.

Một con voi lớn choàng tấm khăn thêu sặc sỡ có đính những hạt cườm nhỏ lấp lánh bước chậm rãi, oai vệ phía trước đoàn rước, theo sau voi, đoàn rước chia thành 03 hàng, đi đầu mỗi hàng có một người chỉ huy, sau đó là ban nhạc gồm một cái trống lớn, một cái chiêng và một cái tù và. Hai hàng đi ngoài là lính vác cờ tế mặc quần áo mới tinh, áo màu đỏ hồng điều thêu chỉ vàng, quần trắng, chân quấn sà cạp màu đỏ, phía ngoài cùng có hai hàng lính vác cờ Phật tượng trưng cho ngũ hành là : Kim (Vénus), Mộc  (jupiter), Thủy (Mercure), Hỏa (Mars) và Thổ (Saturne). Nhạc công mặc quần áo xanh, người phục vụ của Triều đình mặc trang phục màu đỏ tía và rất nhiều người phục vụ khác bê mâm rượu cúng và đồ lễ như: ngọc, lụa, vật phẩm, các loại trang phục lễ…Tất cả mâm lễ đều được che một cái lọng màu vàng rồi đến đoàn rước đèn, hương, những cỗ xe tứ mã, những chiếc kiệu sơn đỏ phủ lụa vàng và cuối cùng là một cái kiệu song loan của Vua do người khiêng trên vai. Vua Bảo Đại ngồi yên lặng trên kiệu, cao hơn trong đám rước. Theo sau Vua là một đoàn dài những chiếc xe kéo chở các hoàng tử, thân vương, thượng thư , quan lớn trong triều trong bộ trang phục nặng nề bằng lụa thêu chỉ màu xanh thẫm, hồng ngọc sẫm.

Những bộ quần áo bằng sa tanh, gấm vóc nhiều màu sắc rập rờn, lượn sóng của dân chúng đi rước cúi rạp mình trước kiệu của nhà Vua. Dân chúng đi xem đám rước ngày một đông nên đám rước ngày càng dài ra đến hàng cây số từ nơi lập đàn đến gần cung điện.

Nhà bếp là nơi làm cỗ lễ, đầy các con vật đang được giết, nhúng nước sôi, thui trên lửa, than. Khu đồi lập đàn tế Nam Giao có bốn bức tường gạch xây bao quanh quay ra bốn hướng: Bắc, Nam, Tây, Đông. Ở giữa là một mô đất cao tượng trưng cho ngọn núi, các cửa được mở phía giữa mặt ngoài các bức tường như những con mắt để phòng trừ ma quỷ. Trên cành cây, bên ngoài phía cửa của bức tường thứ tư được treo hàng nghìn bóng đèn nhỏ sáng lung linh. Phía cửa của bức tường thứ ba có một ngôi nhà lợp lá màu vàng để cho nhà Vua nghỉ ngơi tĩnh tâm, chay tịnh biểu thị cho sự sạch sẽ, tinh khiết trước khi vào khu vực tế lễ thần thánh. Nơi này cũng dành cho nhạc công chơi các loại nhạc cụ cổ truyền (instrument archaïque) như: chuông, khánh, đàn đá, sênh, đàn xita (cithare) và sáo cũng là nơi để các vũ công là thường dân và binh lính biểu diễn múa côn, vương trượng (ở đầu cây côn và vương trượng khắc hình các con vật thần thoại (animal fantastique) theo trí tưởng tượng còn vũ công là binh lính thì múa khiên, mộc, rìu bằng gỗ sơn màu đỏ.

Xe ngựa kéo chở hoàng thân, ảnh sưu tầm

Phía cửa của bức tường thứ hai và thứ nhất là khu vực linh thiêng, phía mặt của bức tường sơn màu vàng tượng trưng cho mặt đất, bức tường hình tròn, sơn màu xanh, che cái lọng màu xanh da trời tượng trưng cho bầu trời (theo quan niệm dân gian ngày xưa cho rằng “trời tròn, đất vuông”)

Trên tất cả bốn mặt các bức tường đặt bàn thờ để cúng trời, đất. Hai bàn thờ màu xanh ở hướng Tây, Đông để thờ mặt trời, mặt trăng, các vị tinh tú trên trời. Hai bàn thờ màu vàng ở hai hướng Bắc, Nam để thờ thần biển, thần sông, hồ và đặc biệt là bảy ngọn núi là nơi đặt các lăng tẩm của các vị Tiên đế và các cánh đồng màu mỡ ở hướng này.

Ở nơi thờ thần đất, trước cổng chính đặt một bàn thờ và dựng một ngôi nhà màu vàng để nhà Vua làm lễ tạ thần thánh và đốt hóa vàng, mã và cuối cùng trên mô đất cao dựng một ngôi nhà để làm nơi cử hành các nghi lễ long trọng được đặt 07 bàn thờ trong đó có 02 bàn thờ quay về hướng Nam. Bàn bên trái để cúng trời, bàn bên phải cúng thần linh của đất (bàn thờ cúng trời màu xanh, hình tròn, bàn thờ cúng đất màu vàng, hình vuông), 05 bàn thờ còn lại để thờ các vị Tiên Đế là: Nguyễn Hoàng, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

Những ngươi cầm cờ trong Lễ tế tại Đàn Nam Giao, ảnh sưu tầm

Các vũ công đánh trống trong đám rước trên đường tới Đàn Nam Giao, ảnh sưu tầm

Những bàn thờ thần đều được phủ vải và viết chữ vàng do các viên quan chữ đẹp, phẩm hàm tương xứng với tầm quan trọng của từng thần. Trước bàn thờ đặt mâm sơn bày con vật làm lễ. Các con vật đều được làm sạch lông, mổ, đặt quỳ chân, mỏ hoặc miệng được tách ra bôi phẩm màu đỏ.

Lễ tế được chuyển dịch dần quanh 04 cửa nơi đặt các bàn thờ. Ban đêm, khi ánh trăng chiếu sáng hắt ánh bạc lên mái nhà lễ là lúc buổi lễ trở nên dồn dập và nhiều nghi lễ nhất. Khi nhà Vua ngồi nhập định thì tất cả dân chúng đồng loạt tụng kinh, khi tiếng chuông ngân lên là lúc Vua Bảo Đại bắt đầu vào làm lễ. Vua mặc áo rất lộng lẫy gồm có: áo tế dài bẳng lụa tía rộng, tay thêu rồng vàng, hình mặt trời, mặt trăng và các vì sao, quần bằng sa tanh màu vàng, cổ quấn một băng chéo qua ngực có các tua bằng lụa đính các viên ngọc nhỏ, mũ có dải dài về sau gáy. Nhà vua đứng ở bậc tam cấp của cửa ở bức tường thứ 03 tiến vào phía trong bên trái rồi làm lễ. Lúc này tiếng tụng kinh lễ nhất loạt nổi lên, dồn dập theo sự chỉ huy của một viên chủ xướng.

Một con nghé làm lễ hiến sinh dược đưa lên giàn thiêu để thui. Khói bay lên tượng trưng việc dâng cho các vị thần linh. Một ít lông và tiết của con vật thì chôn xuống đất để cầu sức mạnh. Nhà vua chuyển sang bức tường thứ hai để làm lễ, hương được đốt lên trong tiếng tụng kinh cầu chúc cho mùa màng tốt tươi, làm ăn may mắn, bình an cho tất cả mọi người, mọi nhà cùng với các điệu múa, tiếng chuông vang lên ngân nga. Sau đó là lễ dâng các phẩm vật ngọc, lụa, con vật hiến sinh, hoa, quả, rượu. Vua dâng vật cúng tế lên thần linh và cầu chúc những điều tốt đẹp bằng lời lẽ long trọng nhất, sau đó Vua vờ nếm thử các đồ lễ và mang một ít các đồ lễ về Hoàng cung để thụ lộc.

Buổi lễ kết thúc vào lúc trời vừa hửng sáng, nhà Vua trở lại nhà chay tịnh rồi sau đó trở về Hoàng cung để đến ba năm sau lại làm lễ tế Nam Giao ./.

Đinh Hữu Phượng