03:41 PM 28/03/2021  | 

Đàn Xã Tắc là nơi nhà vua cúng tế Xã (thần Đất) và Tắc (thần Lúa). Người xưa quan niệm, Xã là thần lớn nhất trong năm vị thần, Tắc là loại quí nhất trong ngũ cốc. Các triều đại từ Đinh, Lý, Trần, Lê đến Nguyễn đều tiến hành các nghi lễ cầu thần đất và lúa, cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no ấm, thiên hạ thái bình.

Theo nghi thức của triều Nguyễn, Lễ Tế Xã Tắc được xếp vào hàng đại tự, chỉ đứng sau Lễ Tế Nam Giao. Nhà Nguyễn chọn đất nơi gò cao thanh khiết, tránh nơi dân cư hỗn tạp để xây dựng “Đàn Xã Tắc ở địa phận phường Ngưng Tích về phía Tây Nam trong Kinh thành, hướng về phương Bắc (nay thuộc địa phận phường Thuận Hòa, thành phố Huế), xây đắp từ năm Gia Long 5 (1806). Thể chế đàn chia làm hai tầng: Tầng thứ nhất: Chính giữa 2 án thờ thần Thái Xã, Thái Tắc; án bên phải thờ phối thần Hậu thổ và Câu Long thị; án bên trái thờ phối Hậu tắc thị, hai án bày ở phía đông phía tây hướng vào nhau[1].

Tầng trên của Đàn Xã Tắc, năm 2010. Ảnh Phan Thuận An

Đàn Xã Tắc gồm 2 tầng hình vuông. Tầng thứ nhất,… cao 4 thước, chu vi vuông 28 trượng,... Bốn phía cửa có bậc thềm, Bắc 11 bậc; Đông, Tây, Nam đều 7 bậc. Tầng thứ hai cao 2 thước 5 tấc, chu vi vuông 69 trượng 2 thước. Bốn phía cửa đều 5 bậc,… Chung quanh (hai tầng) xây lan can. Ngoài cùng xây tường đá, chu vi 200 trượng, bốn mặt đều có cửa. Phía trước đàn đào hồ vuông.

Chính bởi sự linh thiêng, cho nên năm 1806, khi khởi công xây dựng Đàn Xã tắc, Vua Gia Long đã lệnh cho các thành, doanh, trấn trong toàn quốc đóng góp đất sạch để đắp đàn, nhằm biểu trưng cho sự thống nhất giang sơn từ Nam đến Bắc. “Ngày mồng 7 tháng Hai năm Gia Long thứ 5 (1806), Hoàng đế Gia Long ban chiếu cho Khâm sai Tổng trấn Bắc thành truyền 11 trấn trong hạt nạp 256 tạ đất để kịp xây đắp đàn Xã Tắc (256 tạ bấy giờ tương đương với 15.475,2 kg ngày nay, 1 tạ là 60,45 kg)[2].

Mỗi năm tế vào tháng trọng xuân, trọng thu ngày Mậu đầu tháng, nhà Vua đích thân làm lễ. Từ Năm Gia Long thứ 8 (1809), đổi vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, nhà Vua đích thân tế, ngoài ra sai đại thần võ ban tế thay. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), nhà Vua ấn định Lễ Tế Đàn Xã Tắc mỗi năm 2 lần vào mùa xuân và mùa thu, chọn Xuân tế vào ngày “Mậu” tháng trọng xuân (tháng 2) sau ngày Tế Nam Giao; Thu tế chọn ngày “Mậu” đầu tháng trọng thu (tháng 8). Vua chỉ đến tế trong những năm “có khánh điển” (như tứ tuần, ngũ tuần đại khánh tiết, hoặc dịp mới đăng quang…).

Bản phụng phiến lục ngày mồng 8 tháng Ba năm Tự Đức thứ 4 (1851) của Bộ Lễ biên chép những nghi thức Lễ Đàn Xã Tắc vào năm do nhà Vua đích thân làm chủ lễ: “Chuẩn bị các khoản dẫn đường hộ giá, các đồ nghi trượng khí giới tế tự bài trí, vẽ bản đồ chú rõ đường đi, dự tính hướng lên xuống và thời gian làm lễ tế,…, phục vụ Hoàng đế đích thân đến làm Lễ Tế Xuân tại Đàn Xã Tắc[3].

Bình đồ Đàn Xã Tắc, năm 1963. Nguồn Bản vẽ Ngô Nẫm

Năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), đứng trước hoàn cảnh khó khăn về tài chính của triều đình, nhà Vua giảm bớt kì Xuân tế ở Đàn Xã Tắc, chỉ còn lại kì Thu tế. Sách Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ tục biên, ghi chép rằng: “Năm nay các đàn, miếu, từ đường trong Kinh và ngoài Kinh các kỳ Tế Xuân và Thu chiếu tuân theo lệ năm ngoái để châm chước mà thực hiện 1 Thu tế. Về sau tuân theo thế mà thực hiện. Đợi khi kho chứa dồi dào có nên chiếu theo lệ cũ mà làm hay không, đợi đến đấy sẽ nghĩ định mà thi hành[4].

Từ thời Vua Thành Thái (1889-1907) trở về sau này, Vua triều Nguyễn không còn làm chủ Tế Xã Tắc, mà phái một vị quan đi tế thay. Ngày 11 tháng Ba năm Thành Thái thứ 6 (1894) của Bộ Lễ phụng biên: “Lễ phẩm dùng trong Tế Xuân tại Đàn Xã Tắc gồm: trâu, dê mỗi loại 2 con; lợn 4 con; xôi 4 mâm; phủ, quỹ, hình mỗi loại 4 cái; biên, đậu mỗi loại 20 cái; xôi tịch điền 6 mâm[5]

Thời Minh Mệnh (1820-1840), đàn Xã Tắc được tu bổ 3 lần: “Lần thứ nhất vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822); Lần thứ hai vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), sửa sang vòng tường thấp bao quanh khuôn viên của đàn và bờ hồ Xã Tắc; Lần thứ ba vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), tu bổ cánh cửa mặt trước Đàn Xã Tắc và dựng tảng đá để cắm tàn ở mặt trước tầng thành thứ hai[6]. Ngày 15 tháng Hai năm Duy Tân thứ 4 (1910) Bộ Công tâu xin tu bổ Đàn Xã Tắc cần “chi 173 đồng 4 hào trích trong ngân khoản tu bổ tại Kinh, để sửa chữa lan can thứ nhất, thứ hai, thứ ba và các bậc thềm, tường vây quanh Đàn Xã Tắc[7].

Lễ Tế Đàn Xã Tắc cuối cùng của nền quân chủ Việt Nam được tổ chức dưới thời Vua Bảo Đại. Ngày 24 tháng Hai năm Bảo Đại thứ 20 (1945) Bộ Lễ - Công tâu xin “chọn ngày mồng 8 tháng Ba cử hành Tế Lễ Đàn Xã Tắc và phái Tham tri Bộ Tư Pháp Nguyễn Trọng Tĩnh phụng sung khâm mệnh đến tế[8].

Như vậy, từ khi thất thủ Kinh đô vào năm 1885 và sau đó khi triều Nguyễn cáo chung (1945), đất nước đã trải qua những biến động liên tục về chính trị và xã hội, Đàn Xã Tắc bị xuống cấp, rồi bị chiếm dụng ngày càng nhiều như chúng ta đang thấy được một phần hiện nay. Đến năm 2008 phục vụ cho Festival Huế, lần đầu tiên Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế tổ chức tái hiện Lễ Tế Đàn Xã Tắc. Việc phục dựng Lễ Tế Đàn Xã Tắc có ý nghĩa bảo tồn lễ tế quan trọng mang đậm tính nhân văn, tôn vinh nền nông nghiệp và văn hóa nước nhà trên cơ sở kế thừa tiếp thu những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc.

Bản chiếu ban ngày mồng 7 tháng Hai năm Gia Long thứ 5 (1806) của Hoàng đế Gia Long về việc truyền cho Tổng trấn Bắc thành nạp đất để xây đắp đàn Xã Tắc. Nguồn TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn

Bản tấu ngày 24 tháng Hai năm Bảo Đại thứ 20 (1945) của Bộ Lễ Công về việc chọn ngày cử hành tế lễ Đàn Xã Tắc và phái quan viên khâm mệnh đến tế. Nguồn TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn

 


[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Kinh sư, quyển 1, tr.14,15.

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Gia Long tập 2, tờ 14.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 23, tờ 138.

[4] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ tục biên, tập 5, tr.64, NXB.KHXH, H.2007.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 9, tờ 110.

[6] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ , tập 13, NXB. Thuận Hóa, Huế. 1993.

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Duy Tân tập 28, tờ 20.

[8] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Bảo Đại tập 29, tờ 313.

Đoàn Thị Thu Thủy