08:15 PM 04/09/2020  | 

Vua triều Nguyễn rất chú trọng vấn đề giáo dục và đào tạo nhân tài. Vua Minh Mệnh từng dụ rằng: “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, chăm lo đến việc nuôi dưỡng nhân tài, đặt nhà học, cấp lương cho giám sinh, gia ân cho học trò, ban sách vở, đều mong học trò thành tài để giúp việc nước”. Vậy ngày khai giảng dưới triều Nguyễn xưa được các vua triều Nguyễn quy định thế nào? Từ các văn bản hành chính lúc bấy giờ, chúng ta sẽ tìm thấy một phần câu trả lời.

Các Hoàng thân và thầy dạy, nguồn: sưu tầm

Dưới triều Nguyễn, lễ khai giảng thường diễn ra vào mùa xuân. Sách Đại Nam thực lục chép:  hàng năm sau ngày khai ấn đầu xuân một ngày thì khai giảng (開講).[1] Sách Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ cũng nói về việc này: Hàng năm cứ đầu xuân sau ngày khai ấn một ngày thì Quốc Tử Giám khai giảng. Cuối năm sau ngày xếp ấn một ngày thì nghỉ giảng (輟講). Đến ngày khai giảng thì đặc vị tiên sư ở Di Luân Đường, quan Quốc Tử Giám đem học trò làm lễ yết cáo.[2]

Người xưa quan niệm chọn ngày lành tháng tốt để bắt đầu một việc là điều hết sức quan trọng, việc chọn ngày khai giảng cũng không ngoại lệ. Do vậy, ngày khai giảng xưa thường do Khâm Thiên Giám chọn ngày giờ tốt lành để tiến hành.

 

Trang đầu bản Tấu của Bộ Lễ ngày 16 tháng 12 năm Tự Đức thứ 10 (1857) có đề cập việc khai giảng hàng năm của Hoàng thân, Hoàng đệ đang lưu lại học tập là do Khâm Thiên Giám chọn ngày tốt làm lễ, nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Châu bản triều Nguyễn cho biết, theo lệ hàng năm có lễ khai giảng, nên năm Thành Thái thứ 6 (1894), Khâm Thiên Giám xin chọn ngày Quý Sửu mồng 6 tháng 3 tiến hành khai giảng là hiệp cát.[3]

Bản Tấu của Trần Nhượng năm Tự Đức thứ 31 (1878) cho biết thêm: Về ngày khai giảng sang năm, xin do Khâm Thiên Giám chọn ngày nào trong trung tuần tháng Giêng là ngày tốt và do quan Bộ Lễ vâng theo nghị chuẩn, sắm đủ các loại đèn, hương, rượu, quả làm lễ cáo để khai giảng.[4]

Theo thường lệ, trước ngày khai giảng một ngày, một viên giảng quan được Vua chỉ định, phụng mệnh đến điện Văn Minh bày biện, sắp các hạng lễ phẩm, làm lễ cáo dâng lễ vật, có chúc văn.

Để chuẩn bị cho lễ khai giảng năm Thành Thái thứ 10 (1898), theo lệ trước khai giảng 2 ngày, quan Bộ Lễ cùng thị vệ đem các vật hạng ở kho vào điện Văn Minh sắp đặt cho nghiêm chỉnh. Đến trước khai giảng 1 ngày thì một viên Kinh diên nhật giảng quan với đầy đủ triều phục, sẽ vâng mệnh làm lễ yết cáo đúng như nghi thức. Theo đó, ngày 24 tháng này (tháng 3) là ngày Đinh Mùi tiến hành lễ khai giảng và xin chỉ chuẩn phái Hiệp biện Đại học sĩ sung Phó Tổng tài Quốc Sử quán Kinh diên giảng quan Hoàng Hữu Xứng, trước 1 ngày, tuân lệ vâng mệnh làm lễ.[5]

Thông thường hàng năm, các viên tế tửu, tư nghiệp sau khi làm lễ vọng bái Tiên sư (Khổng Tử) thì lên trường khai giảng ngay ngày hôm ấy. Minh Mệnh năm thứ 17 (1836), Bộ Lễ tâu: “Nhà Di Luân ở Quốc Tử Giám, trước đã đặt bài vị Tiên sư, để làm chỗ cho sinh viên bái vọng. Hằng năm, khai giảng hay nghỉ giảng đều làm lễ triển bái ở đó. Các tiến sĩ tân khoa cũng làm lễ Thích điện (lễ tế Tiên thánh Khổng Tử) tại đó. Vả, Văn Miếu ở bên tả nhà Quốc Tử Giám, cúng tế long trọng đã có chỗ rồi. Bái yết ở đó mới là hợp nghi. Vậy xin từ nay, hễ học sinh vào nhà Giám, thì giám thần mặc phẩm phục, đem học sinh đến Văn Miếu, làm lễ cáo yết xong, lui về giảng đường, làm lễ tham yết. Khi khai giảng hay nghỉ giảng, không phải cáo lễ nữa. Khi các tiến sĩ làm lễ Thích điện, cũng xin cho làm ở sân miếu, mới tỏ được trang trọng kính cẩn; còn chỗ bái vọng, xin đừng đặt nữa”! Vua cho là phải.[6]

Về nghi tiết giảng, sách Đại Nam thực lục chép, trước kỳ khai giảng 1 ngày, giảng quan đem mấy chương nêu giảng ở Tứ thư, kinh, sử, tâu lên dâng trình. Đến ngày, chia án tả, hữu tiến giảng. Khai giảng thì do giảng quan giảng, hằng ngày thì do nhật giảng quan giảng.[7]

Ngày khai giảng, đình thần ban văn từ tham tri trở lên và ấn quan ở viện Đô sát và Nội các, toản tu ở Sử Quán cùng các thân phiên, hoàng thân từ quốc công trở lên đều chuẩn cho theo ban vào chầu, cùng với các giảng quan đều làm lễ 5 lạy, xong thì chia ban, cũng đều cho ngồi.[8]

Chương trình dạy học thì chia theo ngày lẻ ngày chẵn, trước giảng kinh truyện, sau giảng sách, tử, sử, tính lý. Tháng nào cũng cứ các ngày mồng 3, mồng 9, 17, 25 chiểu theo phép thi ra đầu bài cho học trò tập làm văn. Kỳ nào cũng đem quyển văn ra bình duyệt. Duy kỳ đệ tứ trường đều yết bảng 1 lần. Học sinh lười biếng thì học quan đánh mắng cho biết nhục. Nếu có các tính xấu ô danh mất nết, thì quan Quốc Tử Giám tư bộ tham hặc nêu ra[9].

Như vậy đủ thấy triều Nguyễn coi trọng ngày khai giảng đến mức nào. Các nghi thức tổ chức khai giảng từ việc chọn ngày, làm lễ yết cáo đến lễ bái Tiên sư… mang đậm dấu ấn thời đại và khác xa so với lễ khai giảng hiện nay.


[1]Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập 2, trang 399.

[2] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, nxb Thuận Hóa, tập 15, trang 497.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Thành Thái, tập 9, tờ 32.

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tập 310, tờ 338.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Thành Thái, tập 38, tờ 126.

[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập 4, trang 1048 - 1049.

[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập 7, trang 119.

[8] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007, tập 7, trang 119.

[9] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, nxb Thuận Hóa, tập 15, trang 498.

Hồng Nhung