06:34 PM 15/09/2020  | 

Cách đây hơn 90 năm, vào nửa đầu tháng 2-1930, một số cuộc khởi nghĩa và bạo động vũ trang do Việt Nam Quốc dân Đảng lãnh đạo đã đồng thời nổ ra tại một số nơi trên địa bàn Bắc Kỳ.

Nguyễn Thái Học – Cựu sinh viên Trường Thương mại thuộc Đại học Đông Dương (Université indochinoise), một trong số các lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng khi bị bắt giam tại Hỏa Lò (Hà Nội) năm 1930. Ảnh: Wikipedia

Đó là: Khởi nghĩa ở Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao (Phú Thọ) và đồn binh chùa Thông (Sơn Tây) ngày 10-2-1930;

- Bạo động vũ trang ở Hà Nội ngày 10-2-1930;

- Khởi nghĩa ở Hải Dương, Phụ Dực (Thái Bình) và Vĩnh Bảo (Hải Phòng) ngày 15-2-1930.

Tuy xảy ra ở các địa phương khác nhau nhưng cùng do Việt Nam Quốc dân  Đảng lãnh đạo, lại diễn ra cùng ở một thời điểm nên “lịch sử vẫn quen gọi chung là khởi nghĩa Yên Bái[1].

Tại Yên Bái, quân khởi nghĩa đánh chiếm được đồn dưới và kho vũ khí, giết và làm bị thương một số sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp. Nghĩa quân đã làm chủ được một số khu vực trong thị xã, treo cờ trên các công sở và phát truyền đơn hô hào quần chúng nổi dậy. Nhưng nghĩa quân đã không chiếm được đồn cao trong đó có tên Trung tá Tư lệnh Tacon, chỉ huy trưởng người Pháp, và cũng không lôi kéo được lính khố xanh người Việt theo về với cách mạng. 8 giờ sáng ngày 10-2-1930, quân Pháp phản công quyết liệt với sự hỗ trợ của máy bay từ Hà Nội lên. Quân khởi nghĩa bị thất bại hoàn toàn.

Các cuộc khởi nghĩa khác, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trên thực tế đã không thể tiến hành được, hoặc có nổ ra nhưng rồi đều bị đàn áp thất bại.

Sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, thực dân Pháp đã tiến hành một chiến dịch khủng bố rất tàn bạo. Ngày 14-2-1930, Toàn quyền Đông Dương Pasquier đã ký Nghị định thành lập Hội đồng Đề hình do Thanh tra hành chính Bắc Kỳ Poulet Osier là Chủ tịch Hội đồng để xét xử vụ án Việt Nam Quốc dân Đảng. Nghị định này cùng với một số hồ sơ về các phiên tòa do Hội đồng Đề hình mở công khai tại Hà Nội và một số nơi khác hiện nay vẫn còn được lưu giữ tại Phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (fonds de la Résidence supérieure au Tonkin – RST) của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Theo tài liệu lưu trữ thì tổng số có hơn 600 đảng viên bị đưa ra xử, trên 30 người bị lĩnh án tử hình (trong đó có các lãnh tụ của đảng như Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp, Trần Quang Diệu…)[2].

Các hồ sơ lưu trữ cũng phản ánh các vụ trả thù dã man của thực dân Pháp đối với các địa phương diễn ra các cuộc khởi nghĩa vũ trang như vụ triệt hạ bằng máy bay và súng liên thanh giết chết 21 người dân vô tội ở Cổ Am (Vĩnh Bảo, Hải Phòng); các cuộc khủng bố trắng tại các làng Đồng Tải, Phong Cầu, Kha Lâm (Kiến An, Hải Phòng) và một số làng khác của tỉnh Phú Thọ…

Tuy nhiên, sự khủng bố tàn bạo của thực dân Pháp đã không làm cho nhân dân ta nhụt ý chí đấu tranh. Ngược lại, cuộc khởi nghĩa Yên Bái còn có tác dụng “cổ vũ lòng yêu nước và chí căm thù giặc của nhân dân ta. Những tấm gương hy sinh quả cảm của các chiến sĩ Yên Bái đã góp phần tiếp nối truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc[3].

Âm vang của cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự khủng bố tàn bạo của thực dân Pháp đã dội về chính quốc. Nó đã có tác động trực tiếp đến những sinh viên đang du học tại Paris và đã thổi bùng lên trong lòng họ tinh thần dân tộc, xót thương giống nòi thực sự. Những tài liệu trong phông Phủ Toàn quyền Đông Dương (Fonds du Gouvernement général de l’Indochine) của Lưu trữ hải ngoại quốc gia Pháp (Archives nationales d’outre-Mer – ANOM) tại Aix-en Provence[4]cung cấp cho chúng ta những bằng chứng xác thực về sự phản kháng của sinh viên Việt Nam đối với những khủng bố tàn bạo của chính quyền thực dân ở Đông Dương sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Những tài liệu này cũng là những bằng chứng xác thực về việc chính phủ Pháp luôn chú ý theo dõi và đàn áp sinh viên không những ở thuộc địa mà ngay cả ở chính quốc. Đáng tiếc là những tài liệu này cho tới nay chưa từng được công bố, và cũng chưa từng được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào về Việt Nam Quốc dân Đảng nói chung hay cuộc khởi nghĩa Yên Bái nói riêng.

Theo trình tự thời gian, những tài liệu đó gồm:

I. Những văn bản có tính chất “thông báo” sự kiện phản kháng của 18 sinh viên du học tại Paris từ chính quốc gửi về thuộc địa.

*Công điện số 885-C.A.I ngày 13-5-1930 của Bộ trưởng Thuộc địa gửi Toàn quyền Đông Dương về đơn thỉnh cầu của các sinh viên ở Nhà nội trú của sinh viên Đông Dương tại Khu Học xá Đại học ở Paris, nội dung như sau:

Paris ngày 13-5-1930

Bộ trưởng Thuộc địa

Gửi Ông Toàn quyền Đông Dương

Tôi hân hạnh chuyển tới Ông, để Ông được biết, bản chụp lá đơn thỉnh cầu của các sinh viên ở Nhà nội trú của sinh viên Đông Dương về những kẻ bị kết án bởi Tòa Đại hình Hà Nội.

Một lá đơn khác có cùng nội dung đã được gửi cùng ngày tới Tổng thống nước Cộng hòa [Pháp].

Công điện số 885-C.A.I  ngày 13-5-1930 của Bộ trưởng Thuộc địa gửi Toàn quyền Đông Dương

Trang cuối danh sách các sinh viên Đông Dương tại Khu Học xá Paris - những người đã ký tên trong đơn gửi Bộ trưởng Thuộc địa và Tổng thống nước Cộng hòa Pháp

Ông sẽ tìm thấy kèm theo đây một bản chỉ dẫn do C.A.I[5] lập có các thông tin về những người bản xứ ký tên trong lá đơn này

Thừa lệnh Bộ trưởng

Giám đốc Vụ Chính trị

Đã ký: JOSEPH

Bức điện có đóng dấu “Mật” (Secret) và dòng chữ: “Trong danh sách này có tên hai con trai của Bạch Thái Bưởi[6].

Khu học xá Đại học ở Paris (Cité Universitaire à Paris)số 41 đại lộ Jourdan, Paris – quận 14. Ảnh: https://www.paris2018.com/sites/cite-universitaire/

Kèm theo công điện số 885-C.A.I ngày 13-5-1930 của Bộ trưởng Thuộc địa gửi Toàn quyền Đông Dương là bản chụp lá đơn viết ngày 12-4-1930 của 18 sinh viên Đông Dương được gửi từ Khu Học xá, Nhà nội trú của sinh viên Đông Dương, số 41 đại lộ Jourdan, Paris, quận 14, với nội dung sau:

Bản chụp toàn văn lá đơn viết ngày 12-4-1930 của 18 sinh viên Đông Dương gửi Bộ trưởng Thuộc địa và Tổng thống nước Cộng hòa Pháp. Nội dung lá đơn yêu cầu tha cho những người đã bị Tòa Đại hình Hà Nội kết án tử hình “vì lý do chính trị” và phản đối những vụ ném bom vào các làng xóm, gây chết chóc cho những người dân lương thiện của chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương.

Paris ngày 12-4-1930

Gửi Ông Bộ trưởng Thuộc địa,

Thưa ông Bộ trưởng,

Chúng tôi ký tên dưới đây, những sinh viên người Đông Dương ngụ tại Nhà nội trú Đông Dương ở Khu Học xá hân hạnh được kêu gọi lòng khoan dung của Ông đối với 52 đồng bào của chúng tôi đã bị kết án tử hình bởi Tòa Đại hình ở Hà Nội vì lý do chính trị.

Chúng tôi kêu gọi Ông hãy vì tinh thần Công lý và Nhân đạo mà can thiệp với Tòa án tối cao để những người này được ân xá.

Mặt khác, chúng tôi vô cùng phẫn nộ đối với những trận ném bom vào các làng xóm gây nên chết chóc cho những người dân lương thiện.

Xin Ông hãy nhận của chúng tôi, thưa Ông Bộ trưởng Thuộc địa, những tình cảm đau buồn sâu sắc nhất.

Dưới thư là chữ ký của các sinh viên.

Cũng được gửi kèm theo công điện số 885-C.A.I ngày 13-5-1930 của Bộ trưởng Thuộc địa là danh sách 18 sinh viên đã viết lá đơn trên:

1. Trần Bá Chi: có thể là người Nam Kỳ, quốc tịch Pháp, đi từ Sài Gòn ngày 16-8-1926, hộ chiếu số 175.

2. Nguyễn Ngọc Ky: người Nam Kỳ, giấy chứng nhận căn cước số C-53513, sinh ngày11-1-1910 ở Da Phuoc, tổng Minh Dat, Bến Tre, con của Nguyễn Ngọc Tương, Tri phủ đại diện hành chính ở Xuyen Moc (Bà Rịa) năm 1928 và Bùi Thị Giàu; đi từ Sài Gòn ngày 20-8-1928.

3. Phan Ngọc Tôn: có học bổng, người Nam Kỳ, giấy chứng nhận căn cước số C-37472, sinh ngày 2-11-1010 ở Tan Kien, tổng Long Hung thuong, Chợ Lớn, con của Phan Ngọc Trinh, Tri huyện năm 1929 ở Mỹ Tho; từ Sài Gòn đi Paris ngày 3-9-1929.

4. Trương Trương Vinh: có học bổng (?), người Nam Kỳ, giấy chứng nhận căn cước số C-12083, sinh ngày 19-2-1905 ở Binh Duc, Long Xuyên, con của Trương Minh Giang, đốc phủ hạng nhất năm 1928 và được thưởng Bắc đẩu bội tinh hạng năm; đi từ Sài Gòn ngày 29-8-1910.

5. Nguyễn Sinh Nam: người Bắc Kỳ, giấy chứng nhận căn cước số T-74900, sinh năm 1911 ở Phúc Xá, tổng Phúc Lâm, huyện Hoàn Long, Hà Đông, con của Nguyễn Văn Vy tức Félix Young.

6. Trương Minh Hàm: có thể là người Nam Kỳ, sinh năm 1909 tại Sài Gòn, đi từ Sài Gòn ngày 29-6-1921, em trai của Trương Văn Xương.

7. Trương Văn Xương: người Nam Kỳ, sinh năm 1907 tại Sài Gòn, rời khỏi Sài Gòn ngày 26-6-1921, anh trai của Hàm.

8. Lê Quang Thắng: người Nam Kỳ, gốc Sa Đéc, con trai của Lê Quang Biên, quốc tịch Pháp.

9. Nguyễn Văn Tất: người Nam Kỳ, giấy chứng nhận căn cước số C-27994, sinh ngày 5-8-1902 tại Long Châu, tổng Bình Long, Vĩnh Long, con của Nguyễn Văn Thiên năm 1926 là thư ký chính hạng của Khu Hành chính Vĩnh Long, đi từ Sài Gòn ngày 25-8-1926.

10. Lê Quang Huy: không rõ tin tức ở Nhà nội trú sinh viên Đông Dương, không được nhận dạng bởi cơ quan an ninh.

11. Nguyễn Văn Nhơn Jean: có thể là người Nam Kỳ cùng tên, sinh ngày 8-7-1910 ở Phuoc Hai, tổng Bình Phước, tỉnh Trà Vinh, con của Nguyễn Văn Thuận và Nguyễn Thị Dương, đi từ Sài Gòn ngày 7-3-1927.

12. Nguyễn Huy Bao: có vẻ chắc chắn là người Bắc Kỳ cùng tên, sinh năm 1909 ở Hà Nội, số 9 đại lộ Doudart de Lagrée [phố Hàm Long], đi từ Hải Phòng ngày 26-11-1925.

13. Bạch Thái Sáu: người Bắc Kỳ, sinh năm 1908 ở Thanh Oai, Hà Đông, con của Bạch Thái Bưởi, đi từ Hải Phòng ngày 2-9-1925.

14. Lê Quang Đức: người Nam Kỳ, sinh ngày 21-8-1921 ở Sa Đéc, con trai của Lê Quang Liên, quốc tịch Pháp và Lê Thị Thi. Được phiên chế vào Pháp ngày 10-11-1928 để làm nhiệm vụ chính thức. Trong thời gian này đã có chứng chỉ học dự bị quân sự cao cấp, nằm trong tốp học sinh sĩ quan dự bị.

15. Bạch Thái Bảy: người Bắc Kỳ, em của Bạch Thái Sáu đã được chỉ rõ ở trên.

16. Thao Nhouy: người Lào, sổ đại học số 1 ngày 27-11-1929, sinh ngày 19-1-1909 ở Khong [?],  Bassac [Hậu Giang], có học bổng.

17. Lê Quang Trọng: con trai của Đốc phủ quá cố Lê Quang Hiên, quốc tịch Pháp. Ở  Pháp từ 1905.

18. Trần Văn Be: không rõ tin tức ở Nhà nội trú sinh viên Đông Dương, không được nhận dạng bởi cơ quan an ninh”.

II. Những tài liệu thể hiện sự chỉ đạo của chính quyền thực dân ở Đông Dương đối với hệ thống chính quyền các cấp về việc nghiên cứu và giải quyết sự kiện phản kháng của 18 sinh viên Đông Dương tại Khu học xá ở Paris.

* Công văn số 4108/SG ngày 15-7-1930 của Toàn quyền Đông Dương gửi những người đứng đầu các khu vực hành chính địa phương[7], Viện trưởng Viện Hàn lâm, Tổng Giám đốc Học chính Đông Dương ở Hà Nội.

Trong công văn này, Toàn quyền Đông Dương dùng từ “những người phản kháng” để chỉ số sinh viên đã gửi đơn thỉnh cầu ngày 12-4-1930 lên Bộ trưởng Thuộc địa và Tổng thống nước Cộng hòa Pháp. Phần quan trọng nhất của công văn, Toàn quyền Đông Dương viết: “Phần lớn trong số những người phản kháng là con của các kỳ hào bản xứ và nhất là nhờ địa vị của cha mẹ mà họ có thể được hưởng rất nhiều thuận lợi mà Khu học xá đem lại cho học sinh nội trú. Một vài trong số những thanh niên này được cấp học bổng, một số khác là công dân Pháp; nhiều người không còn là vị thành niên.

Cuối cùng, Toàn quyền Đông Dương đưa ra ba chỉ thị đối với cấp dưới, nhưng thực chất là ba biện pháp nhằm trục xuất 18 sinh viên đã ký tên trong đơn và đàn áp sinh viên yêu nước[8]:

1. Thông báo cho cha mẹ của 18 sinh viên đã ký đơn để họ đưa con về nước.

2. Thực hiện tất cả những biện pháp cần thiết để không còn một sự việc nào tượng tự xảy ra.

3. Thông báo cho tôi [Toàn quyền] những thông tin của Sở Cảnh sát và An ninh Trung ương về những người Đông Dương chưa rõ trong danh sách”.

Tài liệu này cũng chứng tỏ rằng, mặc dù chính quyền thuộc địa đã nỗ lực trong việc tạo ra một tầng lớp trí thức thân Pháp, mục đích xây dựng một hàng ngũ tay sai cho họ về phương diện văn hóa nhưng kết quả đã đi ngược lại với mong muốn và nỗ lực của họ. 

III. Những tài liệu thể hiện các biện pháp mà chính quyền thuộc địa các cấp đã thực hiện theo sự chỉ đạo của Toàn quyền Đông Dương trong việc giải quyết sự kiện phản kháng của 18 sinh viên Đông Dương tại Khu học xá ở Paris.

* Bản sao công văn “Mật” ngày 24-7-1930 của Thống sứ gửi Đốc lý Hải Phòng chỉ thị việc giải quyết vụ hai con trai Bạch Thái Bưởi ký tên vào đơn gửi Bộ trưởng Thuộc địa và Tổng thống nước Pháp xin ân xá cho những người đã bị Tòa Đại hình Hà Nội kết án tử hình (được Thống sứ Bắc Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương để báo cáo việc thực hiện công văn số 4108/SG ngày 15-7-1930 về vụ việc đã nêu).

Công văn viết:

Tôi yêu cầu Ông triệu tập ngay Bạch Thái Bưởi đến văn phòng của Ông để báo cho ông ta biết về thái độ không thích đáng của các con ông ta. Ông đừng quên nhấn mạnh rằng sự thoải mái và sự phát triển về học vấn của chúng cũng như của cải đáng thèm thuồng mà cha mẹ chúng thu được là nhờ có sự giúp đỡ và dưới sự bảo hộ của Chính quyền Pháp.

Ông cũng tuyên bố với Bạch Thái Bưởi rằng, vì các con của ông ta, sau khi đã cân nhắc, đã tự đứng trong hàng ngũ của bọn tội phạm, những kẻ đã giết các sĩ quan của chúng ta ở Yên Bái, thì kể từ nay trở đi, chúng sẽ không bao giờ được hưởng một tí nào sự khoan dung của chúng ta nữa.

* Bản sao công văn“Mật” ngày 26-7-1930 của Đốc lý Hải Phòng báo cáo đã triệu tập Bạch Thái Bưởi đến văn phòng thông báo việc đưa Bạch Thái Sáu và Bạch Thái Bảy về Việt Nam.

 

IV. Những tài liệu thể hiện sự theo dõi sinh viên Việt Nam học tại Pháp của chính quyền thuộc địa.  

* Bản sao lá thư ngày 20-7-1930 của Nguyễn Văn Trí, trú tại 41 đại lộ Magenta, Paris (quận X) gửi cho bố là ông Nguyễn Văn Thinh, trú tại nhà số 1 quai Lamothe de Carrier, Nam Định trong đó có nhắc tới việc trở về của Bạch Thái Sáu (bản sao thư do Sở Mật thám gửi Thống sứ Bắc Kỳ). Đoạn cuối thư có câu: “Bố mẹ chắc chắn sẽ ngạc nhiên khi thấy Sáu tới một mình. Nhưng bố mẹ hãy tin rằng, nếu có lần con cái không vâng lời bố mẹ, thì bởi chúng không thể làm cách nào khác. Con sẽ nói với bố mẹ về việc này lâu hơn vào một dịp khác” (những câu này đã bị mật thám gạch chân. Điều đó có nghĩa là chúng đã rất đề phòng với những người trẻ tuổi có học vấn này).

* Một số công văn trao đổi dưới dạng “Kín” (Confidentielle) giữa Thống sứ Bắc Kỳ, Giám đốc Sở Mật thám, Công sứ tỉnh Thái Bình với Tổng đốc tỉnh Thái Bình, Tri huyện Đồng Quan và biên bản hỏi cung một số sinh viên Việt Nam từng du học ở Pháp về…                                                                                       

Những tài liệu trên đây là những cứ liệu chứng tỏ rằng, ngay cả những người có lợi ích gắn với chính quyền thực dân ở thuộc địa cũng phản đối chúng khủng bố phong trào cách mạng trong những năm 1930, đặc biệt sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Sự trục xuất 18 sinh viên Đông Dương du học ở Pháp và sự bắt bớ, theo dõi học sinh, sinh viên Việt Nam của chính quyền thuộc địa sau khởi nghĩa Yên Bái vẫn không làm cho nhân dân ta chùn bước. Mặc dù cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã thất bại, nhưng phong trào cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn không ngừng tiến tới. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã biểu thị tinh thần quật cường của dân tộc ta và góp phần đưa tới thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo[9].


[1]Nguyễn Văn Khánh: “Việt Nam Quốc dân đảng trong lịch sử cách mạng Việt Nam”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005, tr.158.

[2]Danh sách những người bị kết án có trong hồ sơ số 82.361, phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (fonds de la Résidence supérieure au Tonkin – RST) thuộc Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Hà Nội.

[3]Lịch sử Việt Nam, T.II, Nxb KHXH, H, 1985, tr. 251.

[4]Phần lớn tài liệu của phông này được đưa về Pháp theo Thỏa ước ngày 15-6-1950 ký kết giữa chính phủ Bảo Đại và chính phủ thực dân mà đại diện là Léon Pignon, số còn lại lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Hà Nội).

[5]C.A.I: Comité d'amnistie indochinois (Ủy ban Ân xá Đông Dương) ?  

[6]Bạch Thái Bưởi (1874 – 22-7-1932), nhà tư sản dân tộc yêu nước có thể cạnh tranh với tư bản người Hoa và tư bản người Pháp trong các lĩnh vực hàng hải, khai thác than và in ấn.

[7]Tức Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ, các Thống sứ Bắc Kỳ, Cao Miên và Lào.

[8]Việc trục xuất 18 sinh viên du học tại Pháp về Việt Nam được nhắc tới trong cuốn Témoignages et documents relatifs à la colonisation française au Vietnam, H, 1945, tr. III-8. Dẫn theo Trần Huy Liệu (cb), Nguyễn Lương Bích,  Mai Hạnh, Nguyễn Việt, Phan Gia Bền, Võ Văn Nhung, Hoa Bằng: “Lịch sử thủ đô Hà Nội”, Nxb Hà Nội, H, 2000, (tr.258).

[9]Hà Văn Thư-Trần Hồng Đức: “Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam”, Nxb Văn hóa-Thông tin, H, 1996, tr. 173.

TS. Đào Thị Diến