06:51 AM 22/03/2021  | 

Các triều đại quân chủ Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của hệ tư tưởng Khổng Nho. Nhà Vua được xem là thiên tử, tuân theo mệnh trời để trị vì dân chúng. Chính vì vậy, việc làm Lễ Tế Giao, tức là Tế trời và đất luôn được các triều đại phong kiến thực hiện nhằm thể hiện uy quyền của Hoàng đế và tính chính danh của triều đại. Với mục đích như vậy, sau khi lên ngôi không lâu, đến năm 1806, Vua Gia Long đã cho tiến hành khởi công xây dựng Đàn Nam Giao ở phía Tây Nam Kinh thành Huế (1) , nay thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế.

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Kinh sư, quyển I, tr.13.

Khu vực đàn tế tọa lạc ở trung tâm, là một kiến trúc lộ thiên, gồm 3 tầng bằng gạch, xây chồng lên nhau, tuân thủ chặt chẽ theo thuyết tam tài: Thiên, địa, nhân, cũng như quan niệm trời tròn đất vuông. Trên cùng là Viên đàn, hình tròn, lan can quét vôi màu xanh, tượng trưng trời xanh (thiên thanh); có trổ bậc cấp lên xuống 4 phía, phía nam có 15 bậc, ba phía kia chỉ có 9 bậc. Tầng giữa là Phương đàn, xây hình vuông, lan can quét vôi màu vàng, tượng trưng cho đất vàng (địa hoàng); có bậc cấp lên xuống 4 mặt đều 5 bậc. Tầng dưới cũng xây hình vuông, lan can quét vôi màu đỏ (xích tử: con đỏ), tượng trưng cho “con người” (nhân) và trổ bậc cấp lên xuống, bốn mặt thềm đều bốn bậc.

Sau Tết Nguyên đán, Khâm thiên giám - cơ quan trông coi lịch pháp dưới triều Nguyễn sẽ gieo quẻ dịch, chọn ra một ngày tốt, để tổ chức Lễ Tế Nam Giao và dâng lên nhà Vua phê chuẩn. Trên Châu bản triều Nguyễn còn lưu lại bút son của Hoàng đế Minh Mệnh khuyên chọn “ngày 15 tháng Hai làm Lễ Tế Nam Giao trên bản tấu của Khâm thiên giám đề ngày mồng 9 tháng Giêng năm Minh Mệnh thứ 7 (1826)[2].

Công tác tìm người phù hợp vào các vị trí Tế lễ tại Đàn Nam Giao được ghi chép cụ thể trên bản phiến lục ngày 19 tháng Hai năm Minh Mệnh 19 (1838) của Bộ Lễ: “Việc lựa chọn quan viên tham dự Tế Lễ Nam Giao được triều đình nhà Nguyễn rất chú trọng. Đặc biệt, trước ngày Tế Nam Giao, chư nha, các bộ đều lập danh sách các quan viên, hoàng thân làm Bồi tế, Chấp sự ở viên đàn để trình nhà Vua lựa chọn trước ngày tế lễ[3].

Vua Minh Mệnh khuyên chọn ngày 15 tháng Hai, trên bản tấu ngày mồng 9 tháng Giêng năm Minh Mệnh 7 (1826) của Khâm thiên giám về việc chọn ngày cử hành Tế Lễ Nam Giao. Nguồn: TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn

Sau đó, triều đình sẽ bắt đầu tiến hành các công việc chuẩn bị cho Lễ Tế Giao. Trước Lễ Tế ba ngày, tượng Đồng nhân (tượng người bằng đồng cầm biển đề ba chữ "tĩnh trai giới") sẽ được rước vào điện Cần Chánh. Từ thời điểm này, nhà Vua phải tiến hành trai giới, diệt dục để dọn mình “sạch sẽ” trước khi đứng vào vị trí Chủ tế. 

Ngày mồng 5 tháng Hai năm Tự Đức thứ 10 (1857), Hoàng đế Tự Đức ban sắc rằng: “Ngày mồng 9 tháng Hai năm nay là ngày Tế trời đất ở Đàn Nam Giao. Bách quan chấp sự các ngươi và những người đi theo làm bồi tự đều phải trai giới trước đó ba ngày đúng như luật. Các ngươi phải đến đầy đủ, dốc lòng hết sức để làm tròn chức phận. Nước thường có điển, không thể không cùng gánh vác. Kính thay[4].

Kể từ năm 1807 cho đến năm 1885, Lễ Tế Giao luôn được tổ chức đều đặn vào mỗi mùa Xuân. Đây được xem là một trong những dịp lễ quan trọng nhất trong các nghi lễ cung đình, và được xếp vào hàng Đại tự dưới triều Nguyễn. Sau thất bại của cuộc tấn công Kinh thành Huế do Tôn Thất Thuyết lãnh đạo vào năm 1885, Lễ Tế Giao đã bị gián đoạn trong suốt 7 năm. Đến năm 1891, dưới thời Vua Thành Thái, Lễ Tế Giao mới được tiếp tục cử hành nhưng theo thể thức ba năm một lần vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu. 

Đàn Nam Giao Huế là nơi Tế trời đất, linh vị các tiên đế đương triều vào ngày tốt đầu Xuân và do chính nhà Vua trực tiếp là Chủ tế bắt đầu từ ba giờ sáng ở viên đàn, phương đàn với những nghi lễ vô cùng trang trọng và phức tạp. Tuy nhiên, bởi Vua Duy Tân lên ngôi lúc 8 tuổi, vì còn nhỏ nên không kham nổi nhiều nghi thức trong buổi Tế Lễ Nam Giao, vì vậy đã phái quan đại thần làm Lễ Tế thay. Sự kiện này được ghi chép trên bản phụng dụ ngày 18 tháng Hai năm Duy Tân thứ 3 (1909) của Nội các: “Phái Hưng Nhân quốc công Bảo Liêm cung kính làm Lễ Tế Nam Giao thay Hoàng đế, do Hoàng đế còn nhỏ tuổi không kham nổi nhiều nghi tiết thăng giáng tiến chỉ[5].

Cùng lúc đó, các bước quan trọng nhất chuẩn bị cho Lễ Tế chính thức cũng được thực hiện. Ở khu vực nhà bếp (Thần trù), công việc hoàn thiện các phẩm vật hiến tế được tất bật thực hiện dưới sự giám sát của các Đại thần thuộc Bộ Lễ và Thái thường tự, cơ quan chuyên đảm trách lễ nghi quốc gia. Đặc biệt, bên cạnh hàng trăm loại trái cây, hương hoa, trầm trà, bánh trái, đèn sáp và vật phẩm không thể thiếu trong Lễ Tế Giao là tam sinh, gồm bò, lợn, dê. Ba con vật tế này được lựa chọn với những tiêu chuẩn kỹ lưỡng và giết mổ theo một trình tự cụ thể, đảm bảo sự thanh sạch trước khi hiến tế cho thần linh. Cụ thể từng loại đồ tế ghi chép trên bản tấu ngày 12 tháng Hai năm Thành Thái 18 (1906) của Bộ Lễ: “Đại lễ Nam Giao ngày 14 tháng này có dùng các lễ phẩm là 7 con nghé; 8 con trâu đực; dê, lợn mỗi loại 6 con; 75 mâm xôi đỗ; biên, đậu mỗi loại 152 cái; phủ, quỹ, đăng mỗi loại 15 cái; hình 20 cái; 37 mâm quả để dâng cúng tại viên đàn và các án theo đàn[6]

Tại các án thờ trên các tầng đàn, hàng trăm loại đồ thờ bằng đồng, gỗ, vàng... được bày biện theo quy định của điển lệ triều đình. Ngoài việc mang ra sử dụng trong Lễ Tế Giao, những món đồ thờ này không được sử dụng trong bất cứ dịp nào khác. Sau Lễ Tế, chúng sẽ được niêm phong và cất trở lại trong nhà chứa đồ tế lễ (Thần khố).

Rừng thông xanh bao bọc xung quanh Đàn Nam Giao trước đây được các Vua nhà Nguyễn cho người chăm sóc xanh tốt, bổ sung hàng năm. Những cây thông đầu tiên do các quan văn võ đại thần, các hoàng thân, hoàng tử trồng từ đời Vua Gia Long; mỗi gốc thông đều có treo một thẻ bài bằng ngà hoặc bằng đồng hay bảng đá ghi rõ tên người trồng, phẩm hàm, ngày tháng trồng. Từ năm 1885 trở đi, có lệ định các ấn quan, mỗi khi được thăng phẩm trật đều phải trồng một cây. Bản tấu ngày 16 tháng Hai năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) của Bộ Công ghi chép công việc Hoàng thân trồng thông rằng: “Kê khai danh sách Hoàng tử từ 7 tuổi trở lên, Hoàng đệ từ 10 tuổi trở lên chờ châu khuyên cho trồng cây thông và cấp mỗi người một tấm biển đồng để treo vào cây tại Lễ Tế Nam Giao[7].

Đàn Nam Giao còn có một loạt công trình kiến trúc phục vụ cho việc Tế Giao như: Trai cung nơi tá túc của nhà Vua trong những ngày Tế Giao, Quan cư và Binh xá (nơi ở của quan và binh trong lúc tế lễ), Thần trù (nhà bếp), Thần khố (nhà kho), Ế sở (nơi phục vụ cho việc tế tam sinh),… Việc triều đình nhà Nguyễn luôn chăm sóc cho tu sửa những nơi bị hư hỏng tại Đàn Nam Giao, được ghi chép cụ thể trên bản tấu ngày 16 tháng Mười năm Khải Định thứ 2 (1917) của Bộ Công: “Phái Viên ngoại lang Vũ Hành đem bọn Nguyễn Đồng, Nguyễn Hòe, Nguyễn Khang nhận thi công tu sửa tôn đàn, trai cung, túc đường tả hữu, nhà uống trà, nhà ăn, bếp thần, kho thần, la thành, bình phong, các bậc thềm, cửa thành thuộc khu vực Đàn Nam Giao, dự trù chi hết 1.340 đồng[8].

Dưới triều Nguyễn, từ năm 1807 đến năm 1945, cứ một năm hoặc ba năm một lần vào mùa Xuân, các vị Vua nhà Nguyễn đến Tế trời đất ở Đàn Nam Giao. Lễ Tế trời đất cuối cùng của triều Nguyễn được cử hành tại Đàn Nam Giao được tổ chức vào nửa đêm rạng sáng ngày 23/3/1945, do Vua Bảo Đại chủ trì. Cùng với sự cáo chung của chế độ quân chủ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Lễ Tế Giao cũng đồng thời chấm dứt. Những nghi thức trong Chương trình buổi Tế Giao còn lưu trên bản tấu ngày 16 tháng Giêng năm Bảo Đại 20 (28/2/1945) của Bộ Lễ nghi - Công tác [9].

Sau khi Lễ Tế Giao đã hoàn tất, nhà Vua và đoàn tùy tùng lên kiệu trở về lại hoàng cung. Khác với lúc xuất cung, đoàn ngự đạo đi trong im lặng để giữ sự trang nghiêm, thành kính. Khi họ hồi cung, nhạc và chiêng trống được tấu lên trên suốt quãng đường để báo hiệu với dân chúng rằng cuộc tế lễ đã hoàn thành tốt đẹp, ước nguyện về một thiên hạ thái bình đã được các đấng siêu nhiên ghi nhận.

Sau năm 1945, di tích Đàn Nam Giao bị bỏ hoang phế; môi trường cảnh quan bị tàn phá. Ngày nay, Đàn Nam Giao đã được trùng tu phục hồi. Mùa Festival Huế năm 2004, lần đầu tiên sau gần 60 năm vắng bóng, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã phục dựng lại Lễ Tế Đàn Nam Giao triều Nguyễn và tiếp tục là điểm nhấn trong các mùa Festival sau này.

Lễ Nam Giao (Vua Bảo Đại đến đàn tế). Nguồn: TTLTQG I, Văn phòng Bảo Đại Đà Lạt

 

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Kinh sư, quyển I, tr.13 (Chữ Hán).

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 15, tờ 03.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 65, tờ 204.

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 57, tờ 47.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Duy Tân tập 20, tờ 09.

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 57, tờ 21.

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 41, tờ 93.

[8] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Khải Định tập 2, tờ 193.

[9] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Bảo Đại tập 29, tờ 262.

Đoàn Thị Thu Thủy