08:57 PM 25/02/2021  | 

Qua cày ruộng Tịch điền, vua Minh Mệnh thấy việc cày cấy của nhà nông gian lao khó nhọc mà chưa được no ấm, vì vậy gia ơn cho giảm thuế: Trẫm tự thân đi cày bừa ở ruộng Tịch điền, làm được 3 lượt, tuy chưa thấy vất vả mà các công khanh theo cày bừa và nông phu, nhiều người mồ hôi chảy đầy mặt mà dừng lại. Có thể thấy việc cày cấy gian lao, so với các việc khác gian khổ lắm thay. Nghĩ nhà nông quanh năm cần cù mà chưa được no ấm, lại bất giác động lòng trắc ẩn. Nay gia ơn trước tiên cắt giảm ba phần mười tất cả thóc gạo vốn phải trưng thu năm Minh Mệnh thứ 10 (1).

Nhà vua trên đường đi cử hành lễ tịch điền qua tác phẩm của Samuel Baron

Trước đây, vua Minh Mệnh đã chuẩn y cho các địa phương "đưa việc làm ruộng Tịch điền, nuôi tằm thành nếp để khuyến khích việc nông tang, một chính sách hay của các đế vương từ xưa. Cho nên phải hết sức noi theo cổ xưa mà thi hành”.[2] “Dân lấy việc ăn làm lớn nhất, cho nên lễ cày Tịch điền không thể bỏ được”. “Việc nông là việc trước nhất của nhà nước. Nếu vua không tự mình đứng làm thì không lấy gì dạy thiên hạ bỏ việc ngọn chăm việc gốc được”. “Từ nay về sau, những người có chức trách thân dân nên thể ý trẫm mà khuyến khích việc nông tang, khiến cho dân đủ ăn, đủ mặc, vui vẻ ấm no. Để thoả lòng trẫm trọng nông chuộng gốc, mình tự làm trước, mà nêu phép tắc”.[3]

Lễ cày ruộng Tịch điền dưới triều Nguyễn thường được tiến hành vào tháng 5 âm lịch (tháng trọng Hạ) hàng năm. Bản Tấu của Bộ Lễ vào năm Khải Định thứ 2 (1917) có viết: Phụng xét tháng 5 hàng năm theo lệ có lễ Hoàng thượng thân đi cày ruộng Tịch điền. Trước kỳ lễ, Khâm thiên giám chọn ngày tốt cử hành. Bộ thần đã tư cho quan giám chọn và đã chọn ngày 11 tháng này (tức tháng 5) là ngày tốt.[4] Trước đó, bản Tấu của Trần Tiễn Thành năm Tự Đức thứ 31 (1878) cũng ghi: Phụng xét hàng năm có chọn ngày tốt trước hoặc sau rằm tháng 5 để cử hành lễ cung canh và các tỉnh làm lễ cày ruộng Tịch điền. Nay Khâm thiên giám thần vâng chọn giờ Bính Thìn ngày mồng 7 tháng 5 cử hành lễ cung canh. Giờ Tân Dậu ngày 12 cử hành lễ cày ruộng. Xin trình bày đợi chỉ để tuân theo mà làm.[5]

Việc nhà vua đích thân cày ruộng Tịch điền được ghi lại trong nhiều văn bản Châu bản. Bản Tấu của bộ Lễ trong Châu bản triều Thành Thái đề cập, tháng tới là đến kỳ cày ruộng Tịch điền. Lễ cày ruộng Tịch điền tuân theo phê chuẩn trước đây, Hoàng thượng đích thân cày ruộng và do Khâm thiên giám chọn một ngày vào hạ tuần tháng đó, ngày nào tốt làm tờ phiến đầy đủ giao bộ chờ chỉ tuân theo thực hiện.[6] Cũng có khi, vua phái mệnh quan cày thay: Bộ Lễ tâu, ngày 2 tháng này (tháng 5), bộ thần vâng sắc làm tờ phiến về việc mệnh quan đi cày ruộng Tịch điền, xin chiếu theo lệ trước thực hiện. Nay tập hợp liệt kê các viên quan phủ thần Thừa Thiên dâng lên, chờ chọn một viên. Vua Thành Thái châu khuyên (lựa chọn) Tôn Thất Uyển.[7]

Để lễ cung canh diễn ra tốt đẹp, công tác chuẩn bị được tiến hành cẩn thận, chu đáo từ trước đó. Trước kỳ, phủ Thừa Thiên sức cho nông dân cày bừa ruộng Tịch điền trước cho đất mềm kỹ. Trước 5 ngày, vua ngự vườn Vĩnh Trạch xem tập cày. Trước 1 ngày quan phủ Thừa Thiên lĩnh đệ 1 cái roi, 1 cái cày, 1 thùng thóc, đặt lên án vàng trên thềm giữa điện Cần Chánh. Vua thân xem đồ nông cụ xong, quan bộ Hộ mang giao cho quan phủ Thừa Thiên tiếp nhận mang ra cửa Tả Túc, đặt vào long đình.[8]

Chuẩn bị cho lễ tịch điền xưa, ảnh sưu tầm

Trước khi chính thức diễn ra lễ cung canh, có cả diễn tập trước để được thuần thục. Bản Tấu của phủ Thừa Thiên trong Châu bản Thiệu Trị đề cập nội dung này: Phủ Thừa Thiên tâu, ngày 27 tháng này, nhân làm lễ cung canh, Nha thần xin chiếu theo lệ trước đây, dự liệu diễn tập trước để được thuần thục. Kính chọn ngày hôm nay, đem biền binh và bọn nông phu gõ chiêng đánh trống ở trước sân diễn tập hàng ngày, chờ đến ngày 19, đến chỗ ruộng cày, chiếu theo diễn tập thường ngày mà làm để được thuần thục.[9]

Châu bản triều Nguyễn cho biết thêm, bộ Lễ sẽ kê khai danh sách các viên quan được chọn cùng theo cày, trình lên vua để vua lựa chọn: Bộ Lễ tâu, nay vâng chuẩn lấy ngày 25 tháng này cử hành đại lễ cày ruộng Tịch điền. Kính vâng nhà vua ngự giá cày ruộng Tịch điền. Vì vậy các viên được sung theo cày và viên chấp sự, xin tuân lệ tập hợp các viên hoàng thân, vương công, tôn tước và các văn võ ấn quan từ tam tứ phẩm trở lên cùng phủ doãn phủ thừa phủ Thừa Thiên, hiệp lãnh thị vệ. Viên nào không có lý do, xin kê khai hàm danh tâu lên chờ chọn để phái sung làm lễ…. Châu khuyên: Miên Phương, Hồng Tố, Bảo Thiện, Hồng Bị, Lê Cơ, Lê Chẩn, Trần Hữu Viết.[10]

Theo Châu bản triều Nguyễn, các hoàng tử, thân công và đại thần văn võ đi theo cày bừa đều được ban thưởng. Các bô lão tham dự dắt trâu cũng được ban thưởng. Châu bản Tự Đức có ghi: Chúng thần Lê Bá Thận ở Nội các phụng Thượng dụ, vừa rồi Trẫm làm lễ cung canh cày ruộng Tịch điền. Tám bô lão tham dự dắt trâu, đều truyền thưởng cho mỗi người tiền và 1 tấm vải màu, 53 người theo cày bên phải bên trái là các phó tổng, kỳ lão, nông phu đều truyền thưởng cho mỗi người 2 quan tiền.[11]

Trái lại, việc chuẩn bị không chu đáo hay quan viên không chấp hành đúng nghi lễ cũng sẽ bị xử phạt. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), vua thân đi cày ruộng Tịch điền, người dắt trâu bước đi không hợp với nhịp điệu. Vua thương người tuổi già, không nỡ đánh mắng, sai từ nay những người lão nông sung vào việc dắt trâu, đỡ cày phải dùng hạng người chạc 50 - 60 tuổi, cốt để lúc đi đứng cho đúng nhịp, nếu khi tiến khi lui sai hàng lối thì phạt nặng; viên kinh doãn cũng sẽ bị giao bàn xử.[12]

Vào lễ Tịch điền năm Thành Thái thứ 10 (1898), bộ Lại tâu: Ngày 3 tháng trước, nhận được tờ lục của viện Đô Sát trình bày, ngày 25 tháng ấy, ngự giá đi cày ruộng Tịch điền. Các quan khoa đạo thấy viên thuộc ty Cẩn Tín là Nguyễn Trần Lương đi giày theo hầu, thực quá ư trái luật, việc này có liên quan tới lễ nghi, xin giao cho bộ Lễ nghị xử.[13]

Đây là lễ Tịch điền được Quốc Sử quán triều Nguyễn mô tả chi tiết trong sách Đại Nam thực lục chính biên: Đến giờ Mão, vua đội mũ cửu long, áo hoàng bào, đai ngọc lên kiệu, người dẫn trước, người theo sau, đúng nghi vệ. Nhã nhạc có bày nhưng không cử. Đến tường phía nam đàn Tiên Nông, các quan mang mũ áo thường triều quỳ đón ở phía trong cửa phường. Vua đến bên đông đường thần lộ xuống kiệu vào tế. Lễ xong, vua ngự đến điện cụ phục, thay mang mũ Đường cân cửu long, áo long bào chẽn tay, thắt đai ngọc. Bộ Lễ tâu xin làm lễ cày Tịch điền. Vua đến chỗ cày, đứng trông hướng nam, các quan đứng chầu ở tả hữu đài Quan Canh; quan Thái thường tự xướng, quan Lễ bộ dâng cày, quan phủ Thừa Thiên dâng roi. Vua tay phải cầm cày, tay trái cầm roi, kỳ lão và nông phu đều 2 người dắt trâu, thị vệ 2 người đỡ cày. Ca sinh hát bài “Hoà từ”, nhạc sinh múa cờ màu ; nhã nhạc cử nhạc. Phủ Thừa Thiên bưng thùng thóc đi theo. Hoàng tử cùng quan Hộ bộ đều cử một người theo sau vãi thóc. Vua cày 3 đường đi 3 đường lại xong, ngự lên đài Quan Canh. Các quan ở dưới đài chia 2 bên đứng hầu. Các hoàng tử, và thần công theo cày, đều đội mũ vàng mặc áo đỏ, cầm cày cầm roi cày 5 đường đi 5 đường lại, kế đến văn võ đại thần 9 người, văn đội mũ văn công, võ đội mũ hổ đầu, đều mặc áo lam, cùng cầm cày cầm roi cày 9 đường đi 9 đường lại. Đều dùng thuộc lại kinh huyện đi theo sau bưng thùng thóc vãi thóc. Lễ xong, vua ngự điện cụ phục, thay mặc long bào rộng tay, lên kiệu. Đại nhạc nhã nhạc đều nổi. Các quan lại ở trong cửa phường quỳ tống. Vua về cung Khánh Ninh. Các quan làm lễ khánh hạ. Ban yến và ban thưởng theo thứ bậc.

Sau nghi lễ Tịch điền đến lúc lúa chín, các quan được phân công phải thay nhau hàng tháng đến xem xét kiểm tra rồi tâu lên. Bản Tấu của Khoa đạo Đặng Văn Huấn có viết: Từ tháng trước đến nay, thần được phái kiểm tra, đã nhiều lần đích thân đến xem xét các ruộng đó, thấy nông phu không được chuyên cần, ruộng lúa có nhiều cỏ dại, các gốc lúa không được tốt. Bá hộ Lê Văn Đông phải thường xuyên đưa dân phu đến chăm sóc làm cỏ, mà tên đó bê trễ lười biếng cho nên lúa không được xanh tốt. Vả lại các ruộng đó quan hệ đến việc điển lễ, vậy mà Lê Văn Đông lại lười biếng như vậy và thần phủ Thừa Thiên cũng không gia tâm đôn đốc, xin giao cho bộ Lễ nghị xử để nhắc nhở sau này.[14]

Có thể thấy, lễ Tịch điền là chính sách khuyến nông độc đáo và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của triều đình và nhân dân lúc bấy giờ. Không chỉ là nghi thức tượng trưng, qua đây, nhà vua càng cảm thông và đưa ra những biện pháp cụ thể để chia sẻ nhiều hơn với nỗi vất vả gian lao của người làm nông lúc bấy giờ.

 

[1] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh, tập 36, tờ 138.

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh, tập 51, tờ 85.

[3] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 2, bản dịch của Viện Sử  học, nxb Giáo dục, trang 742.

[4]Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Khải Định, tập 1, tờ 181.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 296, tờ 346.

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái, tập 38, tờ 224.

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái, tập 9, tờ 233

[8] Đại Nam thực lục, tập 2, trang 713.

[9] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị, tập 37, tờ 295.

[10] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái, tập 38, tờ 253.

[11] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 366, tờ 27

[12] Đại Nam thực lục, tập 3, trang 172.

[13] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái, tập 47, tờ 242

[14] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 208, tờ 98.

Hồng Nhung