08:25 PM 02/03/2021  | 

Bất tử dường như chỉ là điều phi thực tế nhưng đẩy lùi bệnh tật và kéo dài tuổi thọ là điều ai cũng mong muốn. Có lẽ vì thế mà ở nước ta ngay từ xa xưa, bậc quân vương cho đến thường dân đều coi mừng thọ là một lễ quan trọng.

Cụ Mai Viên Đoàn Triển trong cuốn “An Nam phong tục sách” cho biết, trong dân gian cứ 50 tuổi thì lên lão làng. Người lên lão sắm sửa cỗ bàn bái thần nơi đình miếu, đãi toàn dân, gọi là khao lão. Nhà phú quý làm lễ khao lão, con cháu ăn mặc nghiêm chỉnh lễ chúc thọ, mời khách khứa ăn uống, hát xướng.[1] Còn theo cụ Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hóa sử cương”, những nhà phú quý, khi cha mẹ già bảy tám mươi thì con cái làm lễ mừng thọ. Hôm ăn mừng, con cái biện lễ vật hoặc gà xôi, hoặc lợn bò, hoặc tam sinh, đem ra đình lễ thần, nghĩa là tạ ơn thần đã phù hộ cho cha mẹ mình được sống lâu. Sau đó, họ rước cha hay mẹ ăn mặc chỉnh tề, lên ngồi thọ tịch đặt ở giữa nhà, con cháu lạy rồi mỗi người dân một chén rượu hay một quả đào chúc thọ. Sau đó thì bày tiệc mừng mời thân thích, bằng hữu cùng làng mạc đến ăn, có khi năm bảy ngày mới xong.[2]

Đó là trong dân gian, còn trong hoàng cung, triều đình có chính sách như thế nào đối với người cao tuổi và lễ mừng thọ của bậc đế vương được tổ chức ra sao?

Triều Nguyễn có nhiều chính sách cho thấy sự trân trọng đối với người cao tuổi, năm Minh Mệnh thứ 4 (1823), Vua bắt đầu định lệ thưởng quan thọ và dân thọ. Vua dụ bộ Lễ rằng: “Thượng cổ đều lấy trăm tuổi là kỳ hạn. Song từ trước đến nay thọ đến 70 tuổi đã khen là ít có. Huống chi thọ tới 100 tuổi, được đến tuổi “kỳ dị” như thế thực là điều tốt của người buổi thái bình. Trẫm mong nước và dân trường thọ để được thấm nhuần ơn lớn”.  

Các chức quan lớn nhỏ, tuổi 80 trở lên, thì cho đề tâu rõ ràng, đợi chỉ để thưởng cấp tiền lụa theo thứ bậc. Như quan nhất nhị tam phẩm mà thọ đến 100 tuổi thì thưởng 100 lạng bạc, 10 tấm lụa; từ ngũ lục phẩm thì 80 lạng bạc, 8 tấm lụa; thất bát cửu phẩm thì 60 lạng bạc, 6 tấm lụa…

Thượng thư Bộ Học Cao Xuân Dục thọ 80 tuổi, ảnh sưu tầm

Phụ chính thân thần Tôn Thất Hân thọ 89 tuổi, ảnh sưu tầm

Dân thường thì đàn ông thọ 100 tuổi thưởng 30 lạng bạc, vải lụa mỗi thứ 3 tấm, đàn bà thọ 100 tuổi thì thưởng 20 lạng bạc, lụa vải đều 2 tấm; đều được cấp biển treo ở chỗ ở. Trở lên, cứ thêm 10 tuổi thì thưởng thêm 10 lạng bạc. Nơi nào có người già thọ như thế thì quan thủ hiến và trưởng quan phủ huyện thường phải hỏi thăm, đầu năm sai người đến nhà cấp rượu thịt, để tỏ rõ cái chí “ưu dưỡng người già”.

Chữ biển ngạch thọ quan và sĩ lưu thì tới kỳ tâu xin sắc cho, chữ biển ngạch của dân đàn ông thì khắc hai chữ “Thọ dân”, của đàn bà thì khắc hai chữ “Trinh thọ”.

Có 8 người thọ dân ở Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Bình, vì danh sách tâu chậm, bị bệnh chết trước. Vua nghe tin nói: “Tuổi tác là cái quý trong thiên hạ từ lâu. Chính sách của vương giả lấy việc dưỡng lão làm đầu. Đời Hán ban chiếu lệnh ở Sơn Đông thì những người già xin thong thả đừng chết vội để xem đức hoá. Nay địa phương kinh kỳ có người tuổi cao như thế mà lại để cho thân không kịp hưởng phúc trạch thái bình, đó là tội của quan địa phương”. Dinh thần đều giáng một cấp.[3]

Vì vậy, chính sách tôn vinh người cao tuổi thời vua Minh Mệnh tiếp tục được các vua triều Nguyễn sau đó cho thực hiện. Trước lễ thánh thọ tứ tuần của vua Thiệu Trị, năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) các bậc kỳ lão được ban yến và vật phẩm. Phủ Thừa Thiên tâu về việc Bộ Lễ bàn xin phê chuẩn một số việc nên làm, trong đó có một khoản là tập hợp danh sách các bậc kỳ lão trong hạt tuổi từ 70 trở lên, đề đạt lên đầy đủ để làm yến (bữa tiệc) và ban phẩm vật. Theo như phúc trình, danh sách các bậc kỳ lão có 769 cụ trên 70 tuổi.[4]

Cũng vào dịp mừng thọ hoàng thượng, hoàng thái hậu,… các quan viên trong và ngoài kinh được ban thưởng theo thứ bậc:

Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), nhân dịp hoàng thái hậu tuổi lục tuần, các quan văn võ trong triều từ tứ phẩm trở lên thưởng mỗi người thêm một bậc.[5] Các quan ở ngoài trấn, từ tam phẩm trở lên và tham hiệp ở các trấn, đạo thưởng cho mỗi người thêm một bậc. Bộ Lại tập hợp danh sách đề đạt lên. Chuẩn y cho giữ nguyên hàm, thưởng thêm một bậc.[6]

Lễ mừng thọ hoàng thái hậu tròn 50 tuổi dưới triều Tự Đức, ngoài các quan viên văn võ ở kinh đều được đến chúc mừng và được ban thưởng, các viên Đốc phủ, Bố chánh, Án sát, Chánh phó lệnh binh… phục vụ cần mẫn ở ngoài đều được thưởng tiền, bạc, lụa…[7]. Đối với các quan trấn thủ ở các nơi, triều đình cũng chiếu theo phẩm hàm và mức cỗ yến mà tính ra cấp bằng tiền văn để thưởng, như quan viên binh lính ở các đồn lũy như Thuận An, Tư Hiền, nếu người nào chưa được dự yến thì được cấp bò, lợn, gạo nếp để họ làm cỗ một lần…[8]

Mừng thọ cũng là dịp nhà vua ban ơn, các viên quan đang bị phạt được khôi phục cấp bậc. Gặp ngày mừng thọ của vua Minh Mệnh, vua truyền cho Bộ Lại, Bộ Binh chiếu xem xét các quan văn, võ trong Kinh và các tỉnh từ năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) trở về trước, ai bị giáng cấp lưu nhiệm, phạt bổng thì tập hợp danh sách, chú rõ tội danh mắc phải tâu lên đợi nhà vua xem xét gia ân, để tỏ rõ sự ban ơn trạch đều khắp. Theo danh sách kê khai, phạt bổng gồm 54 người.”[9]

Vào dịp mừng thọ hoàng thái hậu, vua Minh Mệnh còn xuống chỉ dụ cho tất cả tuần ty trông coi đầu nguồn, đầm, hồ, bến đò, đồn cửa ải…thực hiện miễn thu thuế trong một năm. [10]

Một số phạm nhân cũng được vua ban ơn cho giảm án hoặc phóng thích. Châu bản Thiệu Trị có đoạn: Mừng thọ Trẫm 40 tuổi, Trẫm muốn thi ân nên đã truyền cho xem xét số phạm nhân tại kinh thành đã thành án do Bộ Hình tập hợp kê khai đệ trình, bản phiến lục đó đã được châu điểm. Truyền cho Bộ đó và quan phủ Thừa Thiên cho thả ngay. Hẹn đến ngày 15 đều đến sở nha điểm danh. Tên nào được dự vào chiếu ban ơn thì tuân lệnh giải quyết luôn. Tên nào không được dự vào thì tập hợp kê khai chờ chỉ xem xét giảm án.

Bên cạnh đó, xuất phát từ quan niệm có được sức khỏe, sống thọ một phần là nhờ các vị thần phù hộ nên vào dịp mừng thọ, vua triều Nguyễn chỉ dụ cho các quan đi tạ lễ các vị thần để cầu khấn thần che chở cho vua khỏe mạnh, ban phúc cho thứ dân, cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng thắng lợi, cho dân yên giặc hết để được an hưởng phúc thái bình: Ngôi thần là cơ trời làm điều thiện, ban sự hay. Năm nay (tức năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), gặp đúng tiết mừng thọ 50 tuổi của Trẫm, phúc trạch thần dân đều phải được hưởng khắp. Nghĩ tới các vị thần thiêng ở các hạt từ kinh kỳ ra bắc, như Thục An Dương Vương, thần núi Tản Viên…, chùa Phật Tích ở Sơn Tây đều thuộc hạng linh thiêng. Nay cho cử bọn Thông Chánh phó sứ sung làm công việc Nội các là Lâm Duy Nghĩa… tới các nơi nói trên đưa trước các lễ phẩm hương lụa của nội phủ, rồi cho các tỉnh viên sở tại chuẩn bị đầy đủ các lễ phẩm đồ mặn để vào làm lễ. Còn Quản Thị vệ Vũ Văn Giải cũng theo lịch trình đi đường dịch trạm mang theo hương phẩm và cũng do các tỉnh ấy chuẩn bị đầy đủ lễ chay, tới làm lễ ở chùa Phật Tích. Những người được cử đi phải làm theo nghi thức và tận lòng cầu khấn thần che chở cho Trẫm khỏe mạnh, ban phúc cho thứ dân, lại cầu mưa thuận gió hòa, mùa mạng thắng lợi, cho dân yên giặc hết để được an hưởng phúc thái bình.[11]

Việc cung tiến lễ vật có khi được miễn để tiết kiệm. Theo lệ, các hoàng thân, công chúa đến bách quan trong ngoài kinh thành theo lệ có cung tiến lễ vật. Nhưng có những năm, vào thời điểm tình hình đất nước không thuận lợi, cần tiết kiệm thì việc cung tiến lễ vật cũng được miễn. Chẳng hạn, năm Thành Thái 6 (1894), theo ý chỉ của hoàng thái hậu thì lễ mừng thọ 40 tuổi của bà vào thời điểm mọi việc đều cần tiết kiệm, nên truyền cho miễn cung tiến lễ vật.

Việc chuẩn bị cho lễ mừng thọ được tiến hành từ năm trước đó: Sang năm vào dịp lễ mừng thọ Trẫm (tức lễ vạn thọ tứ tuần của vua Minh Mệnh), đã chuẩn cho số quan viên được dự tiệc khá nhiều, ở gian trái phải điện Cần Chánh và hai bên giải vũ tả hữu, truyền cử tiền quân Trần Văn Năng, thự trung quân Tống Phúc Lương, tả hữu triều đường truyền cử Thống chế Nguyễn Văn Trọng, Đoàn Văn Trường chia nhau lo liệu bữa tiệc, cốt sao cho buổi lễ được chỉnh tề vui vẻ. Cho quan Bộ Lễ chọn nhạc công các nước phiên bang phụ thuộc đến ca múa. Nay Trẫm thấy các địa phương thuộc Cao Miên… đi lại vất vả, truyền cho các trấn Nghệ An, Thanh Hoa chọn ở các phủ miền biên cương, nơi nào có âm nhạc bản địa chọn lấy 5-6 người hoặc 8-9 người mang theo nhạc cụ, đến ngày lễ về Kinh.[12]

Vào dịp mừng thọ, kinh thành được trang hoàng lộng lẫy. Nhân lễ vạn thọ tứ tuần đại khánh của vua Minh Mệnh (40 tuổi), năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), ba ngày trước ngày lễ chính, ngày lễ chính và một ngày sau (gồm 5 ngày): ban đêm, nhà của nhân dân trong ngoài kinh đều chăng đèn trước cửa. Còn các cửa ở kinh thành thì ngày treo cờ, đêm chăng đèn. [13]

Đến ngày hôm ấy, vào khoảng canh năm, sau khi trống điểm 3 hồi và đốt ống lệnh, bày đồ lỗ bộ đại triều ở sân điện Thái Hòa, bày nghi lễ thường triều ở sân điện Cần Chánh. 16 người hát chia ra đứng ở hai bên tả hữu sân rồng, về phía bắc chỗ treo nhạc, các người ở ban nhã nhạc, ban đại nhạc đều theo ban thứ đứng xếp hàng.  Ty Lễ bộ kính bưng hòm biểu mừng của trăm quan đặt trên cái án ở giữa Tả nhị, còn hòm biểu mừng của các địa phương thì đặt trên cái án đỏ ở Mái tây. Ty Loan nghi sửa soạn đặt xe vua ở dưới thềm gian chính giữa trước điện Cần Chánh. Những người theo xe và ban nhạc nhỏ đều theo vào, đứng đợi đến giờ, một viên thị vệ đại thần mặc triều phục, quỳ tâu ở bên tả đường giữa trước điện, tâu hai tiếng: “trung nghiêm”, một viên đường quan Lễ bộ mặc triều phục, quỳ ở bên hữu con đường giữa điện tâu 2 tiếng “ngoại biện”. Tiếp đó nội  giám tâu hầu vua đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, cầm ngọc khuê lên ngự trên bảo toạ ở điện Cần Chánh, viên quản vệ ở vệ Loan giá đội mũ đầu hổ, mặc phẩm phục, cầm thanh kim đao vâng mệnh truyền cho các hộ vệ sửa soạn xe loan và đồ hành ngơi rước vua đi xe từ thềm giữa tiến lên, đặt ở gian chính giữa triều điện. Viên quản vệ vệ Loan giá quỳ tâu: xin vua lên xe. Điện Càn Nguyên khua chuông đánh trống, xe ra đi, quân cảnh tất dẫn trước theo sau đúng nghi tiết. Đến thềm phía bắc điện Thái Hoà, rước vua xuống xe, ban đại nhạc ở cửa cảnh môn tấu lên, chuông trống ở điện Càn Nguyên dừng lại, bắn 9 tiếng ống lệnh, rước vua lên ngai, ban đại nhạc dừng lại, tấu bản nhạc “Lý bình”. Trước điểm 3 tiếng chuông to rồi đánh 3 tiếng chúc, nhã nhạc hợp tấu, người hát ca hát khúc nhạc xong, thì nhạc thôi, đánh ba tiếng ngữ, rồi lại đánh 3 tiếng khánh to. Sau đó cùng trăm quan đứng xếp hàng theo ban thứ. Đâu đó tề chỉnh rồi thì tấu bản nhạc “Túc bình”; khi làm lễ mừng thì tấu bản nhạc “Khánh bình”, hai tiết ấy đều làm lễ 5 lạy. Còn biểu mừng của trăm quan thì Nội các bưng lên đặt trên cái án sơn vàng ở trước chỗ vua ngự và miễn không phải tuyên đọc; biểu mừng của các địa phương thì Nội các tiếp nhận, trăm quan chia ban quay ra. Hai ty Hộ vệ và Cảnh tất bắn 9 tiếng súng mừng. Lễ xong tấu bản nhạc “Hoà bình”. Đại nhạc nổi lên, rước vua vào điện Cần Chánh lên ngự bảo tọa. Những quan viên chưa đủ phẩm phục, những nhân viên nhàn tản trong họ Tôn thất, các viên cống sinh, giám sinh cứ theo thứ tự vào sân làm lễ 5 lạy…[14]

Đến nay, thời đại quân chủ đã xa nhưng truyền thống “kính lão” vẫn được đề cao và việc tổ chức mừng thọ các bậc cao niên vẫn được duy trì ở nhiều địa phương trong cả nước như là một nét đẹp truyền thống văn hóa của dân tộc ta.

 


[1] Mai Viên Đoàn Triển, An Nam phong tục sách, Nguyễn Tô Lan dịch chú và giới thiệu, nxb Hà Nội, 2008, tr. 70.

[2] Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, nxb tp Hồ Chí Minh, 1992, tr. 223 - 224.

[3] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, bản dịch của Viện Sử học, tập 2.

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị, tập 37, tờ số 287.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh, tập 25, tờ 125.

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh, tập 25, tờ 128.

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 107, tờ 152.

[8] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 196, tờ 206.

[9] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh, tập 29, tờ 74.

[10] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh, tập 19, tờ 245.

[11] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh, tập 77, tờ 232.

[12] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh, tập 37, tờ 255.

[13] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh, tập 41, tờ 224.

[14] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Bản dịch của Viện Sử học, tập 3, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006,  trang 289.

Hồng Nhung