07:21 PM 28/02/2021  | 

Ngành công nghiệp khai thác than ở Việt Nam chính thức được đặt nền móng từ năm 1888 cùng với sự ra đời của Công ti Than Bắc Kì của Pháp. Mặc dù, trước đó, việc khai thác than đã từng được thực hiện nhưng chỉ mang tính chất nhỏ lẻ và tự phát. Chúng ta cùng tìm hiểu đôi nét về Công ti này trong suốt gần 70 năm hoạt động với tư cách một doanh nghiệp của Pháp tại Việt Nam thời kì thuộc địa và Xí nghiệp quốc doanh Than Hòn Gai những năm 50 của thế kỉ 19.

Theo tin tình báo, viên trung tá hải quân Pháp Henri Rivière được biết có một tốp quân Trung Quốc muốn chiếm khu mỏ Hòn Gai đang hoạt động dưới danh nghĩa một công ti của người Anh. Henri Rivière đã hành động trước. Ngày 12-3-1883, viên trung tá hải quân này, theo lệnh của Thống đốc Nam Kì, đem quân đánh chiếm Quảng Yên, chiếm lấy mỏ than Hòn Gai và và phong toả vùng vịnh Hạ Long[1].

Năm 1888, Công ti Than Bắc Kì (Société française des Charbonnages du Tonkin), viết tắt là SFCT được thành lập có trụ sở đặt tại số 64, phố Chaussée-d’Antin-Quận 9-Paris. Số vốn ban đầu khi mới thành lập là 4.000.000 frcs gồm 8 nghìn cổ phần; năm 1896 số vốn lên tới 6.000.000 frcs, gồm 12 nghìn cổ phần; năm 1928, số vốn là 38.400.000 frcs[2]; tháng 9 năm 1939 là 100.064.000 frcs[3]; năm 1943 tăng lên 200.128.000 frcs[4]. Quyền sở hữu khu vực mỏ ở vịnh Hạ Long và công ti Than Bắc Kì thuộc về ông Bavier Chauffour.

Nhà của “Chủ mỏ”, xây dựng năm 1896, nay là Trụ sở của Liên đoàn lao động tỉnh Quảng Ninh.

Các khu vực khai thác của Công ti gồm[5]

1. Mỏ Hòn Gai: diện tích khoảng 22.000 ha. Mỏ Than Hòn Gai được nhượng cho Công ti Than Hòn Gai ngày 28/4/1888 và bắt đầu khai thác từ tháng 8/1888. Tuy nhiên, đến năm 1893 việc khai thác mới tập trung và sản lượng lên đến 112.000 tấn. Đây là mỏ quan trọng nhất gồm các khu khai thác chính ở Hà Lầm, Hà Tu, Cẩm Phả và Mông Dương. Ngoài ra còn có một số khu vực khai thác nhỏ dọc bờ biển khu vịnh Cửa Lục (port Courbet).

(Bản đồ tổng thể khu vực khai thác của Công ti Than Bắc Kì. Nguồn: TTLTQG1)

2. Mỏ Kế Bào: diện tích khoảng 18.000 ha, mua lại năm 1933 của Công ti Tài sản Kế Bào.

3. Mỏ Mạo Khê: Tháng 1 năm 1934, mỏ Mạo Khê thuộc Công ti Than đá Bắc Kì (Société Anthracites du Tonkin) được hợp nhất với Công ti Than Bắc Kì.

Phần lớn sản lượng than của công ti được khai thác từ các mỏ lộ thiên.

Xí nghiệp đóng bánh than là một xí nghiệp quan trọng đặt tại Hòn Gai để đáp ứng nhu cầu của các công ti vận tải đường thủy và đường sắt. Than bánh được trộn 75% than Hòn Gai, 20% than béo, than 5%.

Lò Than cốc: Công ti có 9 lò đặt tại Hòn Gai để đảm bảo sản lượng 30 tấn mỗi ngày.

Bốc xếp than: Mỏ Than Hòn Gai có 2 cảng riêng biệt. Cảng Hòn Gai và Cảng Cẩm Phả.

- Cảng Hòn Gai cho phép tàu 6.000 tấn vào cảng, được trang bị:

+ 1 cầu cảng bằng xi măng cốt thép dài 75 mét nối liền đất liền bằng một cầu tàu dài 25 mét và sử dụng 2 cần trục hơi 7 tấn.

+ 1 ke dài 70 mét và sử dụng 2 cần trục hơi 7 tấn.

+ 1 ke dài 80 mét và sử dụng 2 cần trục điện 7 tấn

- Cảng Cẩm Phả là một cảng nước sâu cho phép tàu từ 8.000 đến 10.000 tấn vào cảng và 2 tàu có thể ra vào cảng cùng 1 lúc.

Xưởng sửa chữa: Do những khó khăn về cung ứng ở chính quốc, Công ti đã phát triển Xưởng sửa chữa gồm các xưởng rèn, xưởng lắp ráp, xưởng đóng khung, xưởng xanh chảo, xưởng đúc để sản xuất các miếng gang nặng 2.000 kg.

Vận chuyển bằng đường sắt:

Đường sắt mỏ Hà Tu (Nguồn: Thư viện quốc gia Pháp)

- Một đoạn đường sắt 10km từ Hà Tu đến Khu Sàng than Hòn Gai và có một nhánh 3km đi mỏ than Nagotna.

- Một hệ thống đường quan trọng đảm bảo phục vụ Xưởng sàng than, Bãi Rửa quặng, xí nghiệp đóng bánh than, các lò than cốc và bến cảng. Đầu máy hơi nước được sử dụng làm sức kéo.

Các trung tâm khai thác Cẩm Phả và Mông Dương được kết nối với Cảng Cẩm Phả bằng đường sắt khổ 1 mét với chiều dài 16 km và dùng đầu kéo điện 750 mã lực.

Vận chuyển đường biển do một công ti khác đảm nhiệm.

Nhà máy điện: Do nhu cầu về điện ngày càng tăng nên năm 1923, công ti đã xây dựng một Nhà máy điện công suất 8.000 kw. (Máy phát điện xoay chiều chạy bằng 6 nồi hơi Babcock và Wilcox, vận tốc 3.000 vòng/phút)

Bên cạnh các xí nghiệp và xưởng phục vụ trực tiếp, Công ti than Bắc Kì còn xây dựng các cơ sở khác như:

Bệnh viện lớn 1.000 giường và 2 trạm xá được xây dựng tại Hòn Gai, Cảng Cẩm Phả và Mỏ Cẩm Phả. Ngoài ra, tại mỗi điểm khai thác còn có trạm y tế lưu động. Trong trường hợp có dịch bệnh, trại cách li 280 giường được lập ở Hòn Gai.

Một trường Pháp – Việt và một trường dạy nghề được lập ở Hòn Gai. Ở Hà Tu, Cảng Cẩm Phả và Mỏ Cẩm Phả mỗi trung tâm đều có một trường học cho trẻ em người Việt.

Những năm đầu tiên, than khai thác được chỉ bán tại Bắc Kì và Hồng Kông. Sản lượng khai thác tăng lên hàng năm nên Công ti đã thành lập Đại lí Thương mại ở Hồng Kông, rồi Thượng Hải để kết nối với các cơ sở bán hàng chính ở Manilla, Bankok, Singapore, Nhật Bản và châu Mỹ. Đến năm 1940, than Hòn Gai được khách hàng đánh giá cao và được nhiều khách hàng tìm kiếm.

(Bản đồ khu vực khai thác Nagota của Công ti Than Bắc Kì. Nguồn: TTLTQG1)

Công ti Than Bắc Kì đã hoạt động liên tục 67 năm từ năm 1888 đến năm 1955 tại Hòn Gai. Đến năm 1955, Bộ Công Thương tiếp quản Công ti lấy tên gọi là Xí nghiệp quốc doanh Than Hồng Gai.

Thông cáo của Bộ Công thương ngày 25 tháng 4 năm 1955 nêu:

"Theo Hiệp nghị kí ngày 08 tháng 4 năm 1955 giữa ông Đặng Việt Châu, Thủ trưởng Bộ Công Thương với ông Paul Clerget, đại diện Công ti than Bắc Kì ở Hòn Gai, Công ti Than Bắc Kì nhượng lại tất cả thiết bị,

Từ nay mỏ than lấy tên là Xí nghiệp quốc doanh Than Hòn Gai(Hồng Gai).

Trong khi tiến hành công việc bàn giao tài sản và thành lập Ban Quản trị mới để cho công việc sản xuất được đều, Bộ Công thương thoả thuận để ông Paul Clerget đảm nhiệm việc quản lí lâm thời.

Toàn thể anh chị em công nhân và viên chức ai làm việc gì ở nguyên việc ấy, lương bổng giữ nguyên như trước. Bộ phận nào thiếu người, cơ quan quản lí sẽ đặt người khác.

   Mong toàn thể anh chị em công nhân, viên chức và cán bộ kĩ thuật đoàn kết chặt chẽ với nhau, bảo vệ xi nghiệp thực hiện kế hoạch sản xuất do cơ quan quản lí đề ra, để đảm bảo công ăn việc làm cho mọi người và làm cho khu mỏ phồn thịnh./.".

Cho đến nay, trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi, Công ti Than Hòn Gai vẫn là một cơ sở khai thác Than thuộc Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam./.

 


[1]Dương Kinh Quốc (2003), Việt Nam những sự kiện lịch sử, NXB Giáo dục, tr. 121.

[2]Dương Kinh Quốc (2003), Việt Nam những sự kiện lịch sử, NXB Giáo dục, tr. 193.

[3] Bulletin économique de l’Indochince, 1943

[4] Le journal des débats, 22/12/1943

[5] SFCT, 594

Đỗ Hoàng Anh