09:34 PM 10/09/2021  | 

Triều Nguyễn có hai chiếc ấn Văn lý mật sát 文理密察: Một chiếc đúc bằng bạc dưới đời Vua Gia Long; một chiếc đúc bằng vàng dưới dưới thời Vua Đồng Khánh. Hai hình dấu này đều hình vuông, có bố cục giống nhau, bốn chữ Triện chia hai hàng, nét chữ mảnh mai vuông vức. Tuy nhiên, kích cỡ và nét khắc có sự khác biệt: Nét chữ trên dấu đúc đời Gia Long thiên về bề rộng nên nhìn thoáng hơn; nét chữ trên dấu Văn lý mật sát đời Đồng Khánh tạo hình chiều sâu và để hai đường viền. Vị trí đóng dấu kiềm này ở các chỗ tẩy xóa, sửa chữa viết thêm và những nơi giáp trang.

Hình ảnh núm ấn, mặt ấn và hình dấu Văn lý mật sát đúc thời Hoàng đế Gia Long. © Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Ấn Văn lý mật sátđược đúc bằng bạc. Quai là hình tượng kỳ lân đứng, 2 chân trước chống, 2 chân sau chùng, đầu quay sang phải, đuôi bờm xoắn, trên lưng in nhiều bông hoa chấm tròn[1]. Trên núm ấn Văn lý mật sát không ghi rõ thời gian đúc ấn, chính sử cũng không chép cụ thể ấn được đúc vào thời gian nào. Tuy nhiên, chúng tôi tìm thấy hình dấu này có xuất hiện sớm nhất trên Châu bản triều Nguyễn được đóng lên chỗ quan trọng và giáp trang của bản chiếu ngày 11 tháng Giêng năm Gia Long thứ 4 (1805) của Hoàng đế về việc giảm tô thuế cho dân các năm bị hạn hán, lụt lội, mất mùa. Như vậy, thời gian đúc ấn Văn lý mật sát muộn nhất vào năm Gia Long thứ 3 (1804).

Năm 1886, thời Hoàng đế Đồng Khánh, triều đình nhà Nguyễn cho đúc bảo ấn vàng Văn lý mật sát. Một minh chứng cung cấp nguồn thông tin này là bản tấu ngày 19 tháng Tư năm Đồng Khánh thứ nhất (1886) của Bộ Lễ, rằng: “Ngày 15 tháng trước được phê chuẩn 2 bảo ấn là Ngự tiền chi bảo và Văn lý mật sát thay thế dùng đúc bằng vàng. Thần Bộ đã hội đồng sức thợ đúc bảo ấn đã xong phụng đem tiến vào Nội các. Xin chọn ngày tốt rồi tư cho Nội các tâu xin chờ chỉ sử dụng. Phụng chi số vàng 8 tuổi là 10 lạng 6 tiền, 5 ly xin do phủ Nội vụ theo thực hiện tập hợp cho thanh toán[2].

Hình ảnh núm ấn, mặt ấn và hình dấu Văn lý mật sát, đúc năm Đồng Khánh nguyên niên (1886). © Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Trong các tập Châu bản triều Nguyễn hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I có niên đại giai đoạn Nguyễn Sơ xuất hiện rất nhiều hình dấu Văn lý mật sát, còn các tập có niên đại từ đời Tự Đức về sau ít thấy xuất hiện dấu này. Vị trí đóng dấu Kim bảo Văn lí mật sát trên trên các bản dụ, chỉ, chương sớ, sổ sách thuộc về thường sự. Kim bảo Văn lý mật sát có chức năng như loại Kiềm bảo. Một bản kê vào năm Tự Đức 13 (1860) đã ghi chép cụ thể về việc sử dụng dấu Văn lý mật sát: “các dụ chỉ và mọi chương sớ khi có tẩy xoá bổ sung và chỗ giáp lai[3].

Mỗi lần đóng dấu kim bảo Ngự tiền chi bảo, Văn lý mật sát và Sắc mệnh chi bảo, quan Nội các hiệp đồng với Bộ quan đương trực, thiết án giữa Tả vu của Điện Cần Chánh để hầu bảo. Khi dùng đến những bảo tỷ khác quan trọng hơn phải theo một thủ tục riêng. Trước hết, cơ quan có trách nhiệm làm phiến tấu trình lên Hoàng đế để xin phép định ngày “hầu bảo”. Đúng ngày định kỳ đã được phê duyệt, án được thiết lập tại Điện Cần Chánh. Quan Nội hầu thỉnh tráp đựng ấn ra. Vệ binh cầm kiếm tuốt vỏ đứng hầu hai bên án. Quan Nội các và Bộ quan đương trực mặc phẩm phục bước vào chiếu, mở tráp ấn ra để đóng dấu. Khi ấn được đóng xong, kim bảo được đặt lại vào tráp. Quan Nội các niêm phong giao cho Nội thần nhận thỉnh cất giữ. Mỗi lần đóng ấn về việc gì, Hội đồng phải lập biên bản và ghi vào sổ để theo dõi. Một dẫn chứng từ nguồn Sử liệu Châu bản triều Nguyễn đã khẳng định về công việc này là bản tấu ngày 23 tháng Chạp năm Duy Tân thứ 2 (1908) của Nội các về việc xin thời hạn đóng dấu vào sách, tập, lời dụ: “Vâng xét, các bản sách tâu, tập tâu và bản sao lục, lời dụ, vâng làm phiến nghĩ của các nha, bộ và Nội các, trong năm nay đều chưa đóng dấu. Nay xin vào ngày 26 tháng này được ban cho dấu ấn Ngự tiền chi bảo và Văn lý mật sát, để chúng thần đóng dấu vào các sách, tập, lời dụ. Xong việc xin kính cẩn niêm phong, ghi chú, dâng nộp lên[4].

Vào một ngày tốt cuối năm, triều đình nhà Nguyễn làm lễ Phất thức tức là đem ấn vàng ấn ngọc và bảo vật khác ra lau chùi sạch sẽ, xong niêm phong lại, cất đi, để chuẩn bị đón năm mới. Lễ phất thức đầu tiên diễn ra vào đời Minh Mệnh (1837) và từ đó trở thành một nghi lễ chính thức của triều đình. Một dẫn chứng từ Châu bản triều Nguyễn ghi chép về việc thực hiện nghi thức trong Lễ Phất thức là bản tấu ngày 23 tháng Chạp năm Bảo Đại 19 (05.02.1945) của Ngự tiền văn phòng: “phụng theo lệ đến 26 tháng Chạp năm nay sẽ làm lễ phất thức tại điện Càn Thành. Nay liệt kê các đại thần trong Hội đồng Thượng Thư, phủ Tôn Nhân và các quan văn võ nhì phẩm trở lên tham gia lễ phất thức” [5]. Đây là Lễ Phất thức cuối cùng được thực hiện vào mùa Xuân năm 1945.

Kim bảo Văn lý mật sát đóng trên bản phụng chỉ ngày 18 tháng Giêng năm Gia Long thứ 5 (1806) của Hoàng đế ban cho Tổng trấn Bắc thành về việc chọn mua Bắc trà nộp về Kinh. © TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn

 

[1] Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Kim ngọc bảo tỷ của Hoàng đế và vương hậu triều Nguyễn Việt Nam, H. 2009.

[2] TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn.

[3] TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn.

[4] TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn.

[5] TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn.

Thu Thủy – Phòng Phát huy Giá trị Tài liệu