09:37 PM 18/09/2020  | 

Ở Huế, cố đô của Việt Nam, có một di tích lịch sử là biểu tượng độc đáo của hệ thống giáo dục Việt Nam thời nhà Nguyễn. Đây là nơi dành riêng để thờ cúng các vị thần Nho giáo và ghi nhớ các học giả nổi tiếng về Nho giáo. Đó là Văn Miếu của toàn quốc được chính thức xây dựng vào năm 1808 dưới triều Vua Gia Long. Miếu nằm bên bờ sông Hương, thuộc địa phận thôn An Bình, làng An Ninh, phía Tây Kinh thành.

Văn Miếu – Huế - năm 1965.

Khi các chúa Nguyễn mở mang khai phá phương Nam, Văn Miếu đặt tại làng Triều Sơn. Năm Canh Dần thứ 5 (1770) đời Duệ tông dời về làng Long Hồ. Năm Gia Long 7 (1808), Vua Gia Long muốn có một địa điểm tốt đẹp hơn nên đã dời Văn Miếu từ Long Hồ về phía đông, gần chùa Thiên Mụ, thuộc địa phận làng An Ninh, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên. Ngôi miếu cũ được giữ lại để làm Khải Thánh Từ, tức miếu thờ cha mẹ của Khổng Tử [1].

Chung quanh Văn Miếu có thành cao 2m bao bọc, có cổng chính Văn Miếu môn trổ về hướng Nam và hai cửa hông ở hai mặt Đông, Tây. Nhà chính và nhà trước của Văn Miếu đều 5 gian, thờ Khổng Tử, Tứ phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử) và Thập nhị triết (Mẫn Tổn, Nhiễm Canh, Nhiễm Ung, Tể Dư, Đoan Mộc Tứ, Nhiễm Cầu, Trọng Do, Ngôn Yển, Bốc Thương, Chuyên Tôn Sư, Hữu Nhược, Chu Hy). 7 gian Đông vu thờ Tiên hiền. 7 gian ở Tây vu thờ Tiên nho [2].

Suốt thời Gia Long trị vì, triều đình nhà Nguyễn chỉ mở các khoa thi Hương nên không có tấm bia tiến sĩ nào được dựng ở Văn Miếu. Đến thời Minh Mệnh, kỳ thi quốc gia mới được tổ chức trên sân rộng trước đền chính, nên hai hàng với 32 tấm văn bia ghi danh 292 Tiến sĩ của 32 khoa thi được lần lượt dựng ở đây từ năm 1831 đến năm 1919 - năm có khoa thi Hội cuối cùng dưới thời Vua Khải Ðịnh.

Theo Châu bản triều Nguyễn, sau kì khoa thi điện xong, các tiến sĩ được đề tên vào bia dựng ở bên phải trước Văn Miếu. Những tấm bia “tiến sĩ đề danh kí” này đều được triều đình nhà Nguyễn thuê dân và thợ chọn, chế tạo, chở nạp từ tỉnh Thanh Hóa và núi ngũ hành thuộc tỉnh Quảng Nam đến dựng tại sân Văn Miếu này [3].

Bản tấu của Bộ Công ngày 19 tháng 8 năm Duy Tân thứ nhất (1907) về việc xin chi tiền làm bia Tiến sĩ. Nguồn: TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn, Duy Tân tập số 3, tờ số 118.

Vào những dịp vua đích thân đứng chủ tế tại Văn Miếu, triều đình nhà Nguyễn chuẩn bị tế đinh cẩn thận, từ những việc như bày biện đồ binh khí tế khí, hạng nào, số lượng bao nhiêu và vẽ bản đồ chú đường đi đều được Bộ Lễ nghị bàn rồi tiến trình từ trước. Đặc biệt, quy định áo mũ các quan mặc đội nhân lễ tế Xuân, tế, Thu ở Văn Miếu, được ghi chép rất cụ thể trên bản tấu ngày mùng 7 tháng 4 năm Tự Đức thứ 8 (1855) của Bộ Lễ, trình bày rằng: “Từ nay phàm hàng năm gặp lễ tế Đinh ở Văn Miếu thì quan Chính hiến và các viên Cung hậu, Củ nghi, Độc chúc, đều mặc đầy đủ quần áo đại triều phục. Còn lại các viên Phân hiến ở các án phối thờ tự Tiên hiền, Tiên nho ở 2 nhà (Tả vu và Hữu vu) đều mặc quần áo phẩm phục[4].

Triều Nguyễn thực hiện quy định, từ đời Hàm Nghi (1884-1885) trở về trước rằng: “Hằng năm tế tại Văn Miếu vào ngày đinh tháng trong xuân và ngày thượng đinh tháng trọng thu[5]. Đến năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), đứng trước hoàn cảnh khó khăn về tài chính của triều đình, nhà vua bắt đầu giảm bớt kì Xuân tế ở Văn Miếu, chỉ còn lại kì Thu tế mà thôi [6]. Kể từ thời Vua Thành Thái, Vua triều Nguyễn không còn đích thân đến làm lễ ở Miếu, mà phái một vị quan đi tế thay, vì quá tốn kém [7].

Châu bản triều Nguyễn ghi chép lịch trình tu sửa, làm mới một số đồ thờ và xây dựng thêm một số công trình phụ tại Văn Miếu vào các năm 1829, 1830, 1838 (thời Minh Mệnh); 1869 (thời Tự Đức); 1897, 1898 (thời Thành Thái); 1930 (thời Bảo Đại). Chẳng hạn như, bản tấu của Bộ Công ngày mùng 9 tháng 4 năm Thành Thái 9 (1897) ghi chép việc chi 241 quan 5 mạch 31 văn 8 phân để mua vật liệu sửa chữa xà đỡ ở dưới hiên Miếu Văn Thánh bị gãy hỏng [8]. Nhà Nguyễn không những quan tâm đến các công trình xây dựng trong khuôn viên Văn Miếu mà những cây thông được trồng quanh nơi đây cũng luôn được chú ý chăm sóc, bổ sung hàng năm [9].

Cuối năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Quân Pháp tái chiếm Huế năm 1947, đã sử dụng Văn Miếu làm căn cứ đóng quân cho đến năm 1954. Cộng thêm sự tàn phá nặng nề bởi thiên nhiên, nên nơi đây biến thành một nơi hoang vắng. May mắn thay, đền chính và những bia đá lưu danh Tiến sĩ triều Nguyễn vẫn còn. Gần đây, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã bảo tồn di tích này. Bởi vậy, Văn Miếu không còn nét hoang tàn đổ nát như trước.

Văn Miếu Huế là một trong những di tích đánh dấu thời kỳ vương triều Nguyễn dùng Nho học làm phương tiện trợ giúp để thiết lập quyền thống trị trên toàn đất nước. Đặc biệt, việc lập Văn Miếu và dựng bia Tiến sĩ nhằm thể hiện đạo lý tôn sư trọng đạo, đề cao nhân tài của quốc gia. Ngày nayVăn Miếu Huế đã trở thành một điểm đến tham quan của các bạn trẻ yêu thích du lịch trong và ngoài nước. Những người đến thăm nơi đây sẽ hiểu biết thêm về truyền thống hiếu học của người Việt trong quá khứ.

Bia lưu danh Tiến sĩ triều Nguyễn tại Văn Miếu – Huế.

 

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Thuận Hóa, Huế, 1992, tr. 34-36.

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 1, NXB Thuận Hóa, Huế, 1992, tr. 34.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Duy Tân tập số 3, tờ số 118.

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập số 53, tờ số 161.

[5] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ tục biên, quyển 23, NXB KHXH, HN. 2007, tập 5, tr.64.

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Duy Tân tập số 3, tờ số 118.

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Bảo Đại tập số 33, tờ số 180.

[8] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập số 27, tờ số 108.

[9] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập số 65, tờ số 166.

Thu Thủy