07:14 PM 27/02/2021  | 

“Vì mục tiêu quan trọng nhất của chính quyền thực dân đang theo đuổi là khai thác vùng đất cai trị, chính vì thế, các vấn đề liên quan đến con người để hiện thực hoá mục tiêu đó cũng cần được quan tâm”. Đây chính là mục tiêu ban đầu của tất cả các kế hoạch do người Pháp thực hiện ở Nam Kì khi hiện diện ở nơi đây. Họ đã xác định “Nỗ lực chính cần làm là ngăn chặn các nhân tố chính làm giảm dân số như: các loại bệnh tật và dịch bệnh mà tác động của nó không chỉ làm tăng tỉ lệ tử vong mà còn làm giảm hiệu suất lao động. Công tác y tế đóng vai trò quan trọng trong công cuộc khai thác thuộc địa” (1)

1. Y tế

Ngay sau khi chiếm được Nam Kì, chính quyền đã bố trí bác sĩ và thành lập các trạm y tế nhỏ để chăm sóc bệnh nhận và người bị thương. Ban đầu là các bác sĩ quân y. Năm 1861, một bệnh viên được thành lập ở Sài Gòn.  Nhiều bác sĩ đã đến Đông Dương như Yersin, Calmette, Marchoux, Simon, Grall, Angier vào năm 1893.

Từ năm 1893 đến năm 1906, các bệnh viện, nhà hộ sinh được thành lập ở các tỉnh.

Tổ chức y tế được quy định như sau: “Mỗi tỉnh có một bệnh viện đặt tại tỉnh lị. Bệnh viện có: phòng bệnh nam và nữ riêng biệt; phòng phẫu thuật, phòng sinh, dịch vụ khám bệnh ngoài hàng ngày miễn phí, hiệu thuộc, nhà cách li và một phòng thí nghiệm nhỏ. Tuỳ theo từng tỉnh mà bố trí số giường bệnh giao động từ 100 đến 300, thậm chí 400 giường. Mỗi bệnh viện tỉnh do một bác sĩ Pháp điều hành, 1 hoặc 2 bác sĩ người Đông Dương, y tá và nữ hộ sinh. Ở các trung tâm quan trọng có thể có thêm một trạm y tế do một bác sĩ điều hành và một nữ hộ sinh và các y tá hỗ trợ.Các nhà hộ sinh lưu động có giường bệnh dành cho bệnh nhân và sản phụ cũng được lập.Ngoài ra còn có các nhà hộ sinh độc lập ở một số trung tâm lớn. Các nữ hộ sinh lưu động (bà đỡ) hoạt động trong các làng quê”.

Con số thống kê đến ngày 1/1/1930:

- 21 bệnh viện quan trọng

- 41 bệnh xá - nhà hộ sinh

- 21 phòng khám chữa bệnh

- 25 nhà hộ sinh độc lập

- 124 nữ hộ sinh (bà đỡ)

Tổng cộng là 235 cơ sở y tế.

Các cơ sở y tế ở Nam Kì có thể kể đến:

- Bệnh viện bản xứ Chợ Lớn (Hôpital indigène de Cholon) được thành thành lập với 700 giường bệnh, bộ phận phẫu thuật, bộ phận chụp X-quang, khoa mắt và tai mũi họng và viện ung thư. Một nhà hộ sinh bản xứ dùng làm trường đào tạo nữ hộ sinh (bà đỡ). Ngoài ra còn có phòng khám thành phố (Clinique municipal) với các dịch vụ đặc biệt và viện phòng dịch theo kiểu mẫu của các viện Vernes ở Paris và khoa nuôi trẻ em.

- Viện Pasteur với nhiều phòng thí nghiệm: Phòng chống bệnh dại, phòng xét nghiệmvi sinh cho người, phòng xét nghiệm nước, trấn áp buôn lậu, phòng xét nghiệm bệnh sốt rét, phòng xét nghiệm vi sinh động vật.

- Nhà thương điên Biên Hoà, trại phong Cù Lao Rồng, nhà thương cho bệnh nhân nan y.

- Bệnh viên Chợ Quán tiếp nhận các bệnh nhân đặc biệt, tù nhân, gái nhà thổ, bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm và bệnh nhân tâm thần đang theo dõi.

- Hai bệnh viện chính: Bệnh viện Drouhet và Bệnh viện Grall nơi khám chữa phục vụ công chức người Âu và những nhân vật quan trọng. Hai bệnh viện này được trang bị tất cả các thiết bị y tế và phẫu thuật hiện đại.

Để hoàn thiện tổ chức các cơ sở y tế ở 2 thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn, mỗi thành phố có một phòng y tế được lập để giám sát tổng thể vấn đề vệ sinh đô thị và phòng dịch bệnh.

Bệnh viện bản xứ Chợ Lớn

Nhà Hộ sinh ở Mỹ Tho

2. Cứu tế xã hội

Các tổ chức cứu tế xuất hiện sau khi người Pháp đặt chân đến Nam Kì hoạt động vì lợi ích của người già, người lang thang, người khuyết tật, người mù, trẻ em bị bỏ rơi hay người mắc bệnh phong cơ nhỡ. Bắt đầu là những tổ chức do những nhà truyền giáo lập ra như các trại mồ côi, dưỡng đường, nhà trẻ hay trường học. Sau đó, chính quyền Pháp cũng tăng cường các hoạt động từ thiện xã hội. Mặc dù đương thời có nhiều ý kiến trái chiều về việc chính quyền Pháp thực hiện các hoạt động từ thiện xã hội đối với người bản xứ nhưng sự thật không thể thay đổi được đó là đã có rất nhiều tổ chức lớn nhỏ hoạt động cứu tế xã hội được thành lập và hoạt động trong suốt thời gian thực dân Pháp có mặt tại Việt Nam.

Các cơ sở được thành lập sớm ở Nam Kì có thể kể đến:

- Tu viện Sainte - Enfance de Saigon: Tu viện La Sainte - Enfance de Saigon, tu viện Saint Paul ngày nay) thành lập năm 1860, xây dựng năm 1864 do các sơ dòng Saint Paul Chartres quản lí. Tu viện năm ở đường Tây Ninh đến đại lộ Citadelle (đường Tôn Đức Thắng ngày nay). Năm 1890: Tu viện có 150 học sinh, 10 giáo viên người Âu và 6 giáo viên người bản xứ. Năm 1892: Tu viện có 149 học sinh, 15 giáo viên người Âu và 10 giáo viên người bản xứ. Năm 1894: Tu viện có 535 học sinh, 15 giáo viên người Âu và 15 giáo viên người bản xứ.

- Nhà Dục Anh Tân Định (Sainte - Enfance de Tan dinh) : Thành lập năm 1870.

- Nhà Dục Anh Chợ Lớn (hay Viện Bảo sanh Chợ Lớn[2]) (Sainte - Enfance de Cholon): Thành lập năm 1870.

- Trại trẻ mồ côi ở Biên Hoà: Thành lập năm 1885.

- Trại trẻ mồ côi và một nhà trẻ ở Gò Công (Hospice à Gocong) : Thành lập năm 1891

- Trại trẻ mồ côi và nhà trẻ ở tỉnh lị và các trại trẻ mồ côi ở các làng Vinh Kim và Bai xan ở Trà Vinh: Thành lập năm 1897.

- Trường Câm điếc Lái Thiêu, Thủ Dầu Một: Thành lập năm 1886.

- Nhà Dục Anh ở Vĩnh Long: Thành lập năm 1887.

- Dưỡng đường Phú Mỹ  ở Gia Định.

- Dưỡng đường Cù Lao Giêng (Long Xuyên) : Thành lập năm 1886.

- Một trại trẻ mồ côi và một nhà trẻ ở Long Xuyên : Thành lập năm 1889

- Một trại trẻ mồ côi ở Châu Đốc.

- Hội Bảo trợ trẻ em : do Chính quyền thành lập năm 1906, thay thế cho Hội Con lai Pháp bị bỏ rơi thành lập năm 1895.

- Nhà cứu tế ở Mỹ Tho dành cho người già và người bản xứ mắc bệnh nan y : Thành lập năm 1907.

- Nhà dưỡng lão ở Vũng Liêm : Thành lập năm 1920.

- Trường khiếm thị : Khánh thành năm 1920. Ý tưởng lập một nơi tá túc cho những người khiếm thị được nhen nhóm từ năm 1899. Tuy nhiên việc này không được quyết. Cho đến năm 1919, công trình Trường Khiếm thị được tiến hành bằng nguồn kinh phí Nam Kì và khánh thành ngày 30 tháng 12 năm 1920.

- Viện nuôi trẻ (Nhà trẻ) ở Chợ Đũi ở Sài Gòn : Thành lập năm 1927 với mục đích khám chữa cho trẻ sơ sinh và giáo dục cho các bà mẹ bản xứ đồng thời đưa ra những lời khuyên hữu ích nhất cho việc nuôi con trong điều kiện vệ sinh và y tế tốt nhất.

- Nhà thương điên Biên Hoà (Asile de Bienhoa).

- Trại phong Cù Lao Rồng (Mỹ Tho) : Thành lập năm 1903 với quy mô 200 giường bệnh.

Nhà trẻ ở Sài Gòn

Các cơ sở cứu tế xã hội thuộc giáo hội được trợ cấp một phần nhỏ từ chính quyền. Các cơ sở cứu tế xã hội do chính quyền thành lập hoạt động dưới sự giám sát, chỉ đạo của quan cai trị chủ tỉnh.

 

[1]La Cochinchine. P.Gastaldy - Editeur, Saigon, 1931. S1195-TTLTQG1.

[2] TC749-TTLTQG1.

 

Đỗ Hoàng Anh