03:33 PM 24/08/2026  | 

Bộ Lễ là một trong Lục Bộ thuộc hệ thống chính quyền trung ương. Nhiệm vụ của Bộ Lễ là chăm lo lễ nghi của triều đình và Hoàng tộc; phụ trách giáo dục và tổ chức thi cử. Cơ quan này tương đương với Bộ hiện nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế.

Công đường của Bộ Lễ gọi là Lễ Bộ đường. Khi mới thành lập triều Gia Long (1802-1819), Lễ Bộ đường không nằm ở vị trí hiện nay. Đến năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), mới dời về đường Lục Bộ (đường Nguyễn Chí Diễu ngày nay), góc Đinh Tiên Hoàng - Nguyễn Chí Diễu. Công đường của Tham tri nằm trên đường Bộ Tham (đường Đặng Dung ngày nay); công đường các Thị lang nằm trên đường Bộ Thị (đường Nguyễn Biểu). Tất cả đều thuộc địa phận phường Trung Tích trong Kinh thành.

Về tổ chức, đứng đầu là một Lễ bộ Thượng thư, trật Chánh nhị phẩm, tương đương Bộ trưởng ngày nay. Giúp việc có Lễ bộ Tả Tham tri, Lễ bộ Hữu Tham tri, trật Tòng nhị phẩm, tương đương Thứ trưởng ngày nay. Chức Tham tri đã được đặt ra từ thời Gia Long (thường kiêm quản các Tào ở Bắc thành và Gia Định thành), để tăng cường cho ban phụ trách của Bộ đường. Ngoài ra còn có Lễ bộ Tả Thị lang, Lễ bộ Hữu Thị lang, trật Chánh Tam phẩm, trực tiếp giúp Tham tri phụ trách một số Ty trong Bộ.

Tháng 11 năm Gia Long thứ 8 (1809), triều đình bắt đầu đặt chức Thượng thư Lục Bộ. Đặng Đức Siêu là người đầu tiên giữ chức Thượng thư Bộ Lễ[1] dưới triều Nguyễn. Ôông là người soạn thảo phần lớn các chiếu, biểu, nghi lễ trọng đại của triều đình. Trước đó, tháng 2 năm Gia Long thứ 4 (1805), Đặng Đức Siêu được giao giữ chức Phụ đạo Hoàng tử, trực tiếp dạy dỗ Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm –Vua Minh Mệnh sau này[2].

Lễ bộ Đặng Đức Siêu được bổ làm Thượng thư Lễ bộ.

Nguồn: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục chính biên, đệ nhất kỉ, quyển 39, tờ 16.

Bộ Lễ triều Nguyễn.

Nguồn: Sưu tầm.

Bộ Lễ có bốn cơ quan chuyên trách, gồm các Ty: Nghi văn, Nhân tự, Tân hưng, Thù ứng và một cơ quan văn phòng là Xứ Lễ trực. Viên chức tại các Ty có Lang trung (4/2), Viên ngoại (5/1), Chủ sự (6/1), Tư vụ (7/1) và các Chánh bát phẩm Thư lại (8/1), Chánh cửu phẩm Thư lại (9/1). Tuy nhiên, do công việc của các Ty nhiều ít khác nhau nên số người không hoàn toàn cố định. Chẳng hạn, Ty Tân hưng không có Viên ngoại, Ty Thù ứng không có Lang trung. Số Thư lại cũng thay đổi theo công việc nhiều ít của mỗi Ty.

Các Ty được giao nhiệm vụ cụ thể như sau: Ty Nghi văn thanh lại: Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự, mỗi chức 1 viên; Tư vụ, Chánh bát phẩm Thư lại, Chánh cửu phẩm Thư lại, mỗi chức 2 viên, đảm nhiệm việc lễ Gia[3], lễ Quân và giữ con dấu, tiếp nhận tấu sớ công văn, trình lên đường quan, rồi chia cho các Ty làm”[4].

Ty Nhân tự thanh lại: Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ mỗi chức 1 viên; Chánh bát, cửu phẩm Thư lại mỗi chức 2 viên, lo việc tế tự[5].

Ty Tân Hưng thanh lại: Lang trung, Chủ sự, Tư vụ mỗi chức 1 viên; Chánh bát, cửu phẩm Thư lại mỗi chức 2 viên, đảm nhiệm việc phong tặng các thần, cất nhắc hiền tài, lập nhà học, biểu dương những người hiếu hạnh, tiết nghĩa[6]. Tín ngưỡng thờ cúng Thành hoàng, các vị anh hùng dân tộc ở các làng xã là phong tục đã có tự lâu đời, nên Vua Minh Mệnh đặt thêm Ty Tân hưng để chuyên trách việc phong tặng các thần.

Ty Thù ứng thanh lại: Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ mỗi chức 1 viên; Chánh bát, cửu phẩm Thư lại mỗi chức 2 viên, chuyên giữ điển lệ bang giao, triều cống[7].

Xứ Lễ trực: Nhân viên phòng trực của Bộ Lễ do các Ty lần lượt sắp đặt, phụ trách việc dâng soạn phiến bài và hầu kim bảo[8]. Những Thư lại chưa vào ngạch, cộng 50 tên, chia làm 3 ban; 2 ban được chi lương chia phái đi các Ty làm việc[9].

Cuối triều Nguyễn, trong bối cảnh quyền lực hoàng triều đã suy giảm mạnh dưới chế độ bảo hộ Pháp, ngày 8 tháng 4 năm 1933, Vua Bảo Đại chính thức tuyên bố tự mình chấp chính sau nhiều năm du học. Nhà Vua sắp xếp lại việc nội chính, hành chính, sáp nhập hoặc đổi tên một số Bộ như Bộ Lễ thành Bộ Lễ - Công (năm 1943 đổi thành Bộ Lễ nghi Công tác). Năm Bảo Đại thứ 15 (1941), Thượng thư Bộ Lễ - Công sung kiêm Chủ tọa Hội đồng Cải lương Hương lệ là ông Nguyễn Khắc Niêm[10].

Bản tấu của Bộ Lễ nghi ngày mồng 2 tháng 7 năm Bảo Đại thứ 20 (9.8.1945) về việc chế ấn kiềm cho Vị Khâm sai ở Ai Lao.

Nguồn: TTLTQG I, CBTN.

 

 

 

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục chính biên, đệ nhất kỉ, Nxb. Giáo dục. H - 2007, tr.819.

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục chính biên, đệ nhất kỉ, Nxb. Giáo dục. H - 2007, tr.667.

[3] Theo cổ lễ có 5 lễ là: lễ Cát, lễ Hung, lễ Tân, lễ Quân và lễ Gia. Đã chú thích ở trên.

[4] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, tập 4, Nxb Thuận Hóa. Huế - 2005, tr.15.

[5] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, tập 4, Nxb Thuận Hóa. Huế - 2005, tr.15.

[6] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, tập 4, Nxb Thuận Hóa. Huế - 2005, tr.15.

[7] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, tập 4, Nxb Thuận Hóa. Huế - 2005, tr.15.

[8] Phiến bài: Bài bằng gỗ, dùng thay phiên gọi. Hầu kim bảo: Đóng dấu bằng vàng của nhà Vua.

[9] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, tập 4, Nxb Thuận Hóa. Huế - 2005, tr.15.

[10] TTLTQG I, CBTN, Bảo Đại tập 33, tờ số 180.

Thu Thủy