10:48 PM 10/03/2026  | 

Từ các cuộc thử nghiệm khinh khí cầu ở cuối thế kỷ XVIII đến các chuyến bay đầu tiên vào đầu thế kỷ XX, ngành hàng không Đông Dương đã hình thành trong bối cảnh người Pháp tiến hành thăm dò, chinh phục, phô trương quyền lực và vị thế của mình tại thuộc địa.

Vào thế kỷ XVIII

Ngay khi người Pháp can thiệp vào Đông Dương, hàng không đã được xem như một phương tiện có thể phát huy vai trò nhất định. Cuối thế kỷ XVIII, các tình nguyện viên người Pháp được Giám mục Pigneau de Béhaine đưa sang giúp Nguyễn Ánh đã nghĩ đến việc sử dụng khinh khí cầu.

Vào dịp Tết năm 1791, một quả khinh khí cầu đã được thả lên bầu trời Sài Gòn. Sự kiện này gây ấn tượng mạnh đối với dân chúng An Nam.

Vào dịp Tết năm 1791, một quả khinh khí cầu đã được các tình nguyện viên người Pháp thả lên bầu trời Sài Gòn
(Tranh khắc do họa sĩ Nguyễn Văn Bút, Ban Không ảnh Bắc Kỳ, thực hiện)

Năm 1793, Nguyễn Ánh vây Thành Quy Nhơn (lúc đó có 10.000 quân). Olivier de Puymanel, chỉ huy lực lượng Pháo binh và Công binh, đã gợi ý sử dụng khinh khí cầu để thả chất gây cháy vào thành. Tuy nhiên, Nguyễn Ánh quyết định từ bỏ kế hoạch này do lo ngại ảnh hưởng đối với dân thường.

Vào thế kỷ XIX

Năm 1884, Công binh Pháp Jullien chỉ huy một phân đội khinh khí cầu tham gia tấn công thành Bắc Ninh.

Khinh khí cầu bị chậm trễ do điều kiện đường sá không thuận lợi (qua làng mạc, cây cối, địa hình gồ ghề...). Tuy nhiên, sự xuất hiện của khinh khí cầu cũng ảnh hưởng lớn đến tâm lý của đội quân đóng giữ thành.

Khi tấn công các đồn lũy ở Trung Sơn, đại úy Cuvellier dùng khinh khí cầu trinh sát để xác định vị trí quân đóng giữ và các công trình phòng thủ, thậm chí điều chỉnh hướng bắn của pháo binh

Trong trận Hưng Hóa vào tháng 4/1884, tướng Négrier cũng cho sử dụng khinh khí cầu La Vigie để quan sát trận địa và truyền tin cho pháo binh, giúp quân Pháp chiếm thành.

Ngày 12/4/1884, đại úy Aron điều chỉnh pháo binh bắn vào Hưng Hóa
(Tranh khắc do họa sĩ Nguyen Tien Chuc, thuộc Ban Không ảnh Bắc Kỳ, thực hiện)

Việc bơm khí, vận chuyển và điều khiển khinh khí cầu đòi hỏi nhiều nhân lực, khiến bộ chỉ huy cấp cao buộc phải từ bỏ việc sử dụng khinh khí cầu trinh sát tại Đông Dương.

 Những chiếc máy bay đầu tiên tại Đông Dương     

 Vào hồi 10g30 ngày 10/12/1910, lần đầu tiên một chiếc máy bay xuất hiện trên bầu trời thuộc địa. Phi công Van Den Born, một thương nhân lớn tại Sài Gòn vào thập niên 1930, đã điều khiển chiếc máy bay Farman bay qua thủ phủ Nam Kỳ.

Phi công Van Den Born đứng trước máy bay

Chuyến bay này mở đầu cho “Đại tuần lễ hàng không” do Phân hội Đông Dương của Liên đoàn Hàng không quốc gia Pháp tổ chức.    

Phi công Van Den Born bay qua bầu trời Đông Dương lần đầu tiên
(Tranh khắc do họa sĩ Nguyễn Văn Bút, thuộc Ban Không ảnh Bắc Kỳ, thực hiện)

Trung tá Adam de Villiers, chỉ huy trung đoàn thuộc địa số 11, đã cử một lực lượng nhân sự cần thiết để chế tạo máy bay, dưới quyền chỉ huy của Van Den Born.

Những thợ máy đầu tiên của ngành hàng không Đông Dương chính là lính thủy quân lục chiến. Học viên - phi công đầu tiên cũng là một sĩ quan của trung đoàn này - trung úy De Blanmont, học trò và bạn đồng hành trên các chuyến bay của Van Den Born

Ngày 18/12, phi hành đoàn mang theo đạn và thả thành công xuống một vị trí định trước, qua đó chứng minh khả năng sử dụng máy bay như một công cụ phục vụ chiến tranh. Trước những thành công ban đầu ấy, Toàn quyền Đông Dương bắt đầu để tâm đến lĩnh vực hàng không. Năm 1911, Toàn quyền cử Jardel sang Pháp để nghiên cứu điều kiện tổ chức ngành hàng không thuộc địa.

Phái đoàn Jardel

Trong chuyến đi này, Jardel đã tham quan các xưởng chế tạo máy bay, trực tiếp tham gia hoặc quan sát nhiều chuyến bay và nhanh chóng bị thuyết phục. Jardel đã gửi báo cáo cho Toàn quyền đồng thời kiến nghị cần sớm thành lập ngành hàng không thuộc địa.

Tuy nhiên, khi áp dụng vào điều kiện thực tế tại Đông Dương, những ý tưởng của Jardel gặp nhiều trở ngại hơn ở Pháp: số lượng sân bay còn ít, diện tích nhỏ do đất đai bị chia cắt; địa hình vừa gồ ghề, vừa có nhiều ruộng lúa hẹp bao quanh là hệ thống đê điều; khí hậu khắc nghiệt, thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi mưa bão. Tất cả đều là những khó khăn lớn đối với các phi công đầu tiên.

Dù vậy, Giám đốc Nha Bưu điện và Điện báo Đông Dương vẫn quan tâm đến khả năng vận chuyển thư tín bằng đường hàng không nên nhiệt tình ủng hộ đề xuất của Jardel. Toàn quyền cũng quyết tâm cho thử nghiệm, đồng thời đề nghị Bộ trưởng Thuộc địa vận động Nghị viện cấp ngân sách.

Báo chí Bắc Kỳ hưởng ứng mạnh mẽ và tích cực kêu gọi tổ chức tuần lễ hàng không tại Hà Nội, nhưng kế hoạch này thất bại do thiếu kinh phí.

Tuy nhiên, một số chuyến bay thử nghiệm vẫn được phi công người Nga Kousmensky thực hiện tại Hà Nội, khi sử dụng trường đua ngựa làm bãi hạ cánh. Tuy nhiên, do máy bay chất lượng kém, ông buộc phải từ bỏ các cuộc thử nghiệm.

Mãi đến năm 1913, các buổi trình diễn hàng không mới được tổ chức trở lại tại Bắc Kỳ, mở ra một phong trào rộng khắp. Cùng với phi công Georges Verminck, phi công Marc Pourpe - người sau này đã hy sinh trong chiến tranh - đã thực hiện chuyến bay từ Sài Gòn đến Phnom Penh.

Tại Hà Nội, luật sư Gueyffier thành lập Liên đoàn những người bạn hàng không và mời Marc Pourpe tham gia. Phi công này đã bay ra Hà Nội, thực hiện hàng loạt màn nhào lộn khiến cả thành phố kinh ngạc và thán phục.

Được khích lệ, Marc Pourpe tiếp tục thử sức với chuyến bay từ Hà Nội đến Lạng Sơn nhưng đã phải hạ cánh giữa đường do gặp sự cố. Chiếc máy bay sau đó được vận chuyển bằng tàu hỏa đến Lạng Sơn để sửa chữa. Khi tiếp tục hành trình, Marc Pourpe đã bay qua cửa khẩu Trung Quốc rồi quay trở lại Lạng Sơn và Hà Nội một cách an toàn trên chiếc máy bay một tầng cánh La Curieuse.

Trong lịch sử ngành hàng không Đông Dương, không thể không nhắc tới thợ máy người Mỹ Lufbery - bạn của Marc Pourpe tại Bắc Kỳ. Sau này, Lufbery trở thành một phi công ném bom trong chiến tranh và đã hy sinh.

Cũng trong năm 1913, dù chưa từng tận mắt nhìn thấy máy bay, kỹ sư Achard đã tự chế tạo một chiếc thủy phi cơ bằng vật liệu bản địa (cánh máy bay bằng tre, cánh quạt bằng gỗ).Nhờ một số kiều dân giàu có hỗ trợ, Achard nhập động cơ từ Pháp. Tuy nhiên, do công suất quá yếu, chiếc máy bay không thể cất cánh.

Cùng năm đó, Toàn quyền Sarraut mời phi công Wintrebert sang Đông Dương. Wintrebert nhanh chóng bắt tay vào công việc nhưng phải trở về Chính quốc do Thế chiến I bùng nổ. Wintrebert tiếp tục phục vụ trong ngành hàng không đến năm 1916, khi được triệu hồi trở lại Bắc Kỳ để tổ chức lực lượng hàng không quân sự tại Đông Dương.

Có thể thấy, dù gặp nhiều trở ngại về địa hình, khí hậu và cơ sở hạ tầng, các cuộc thử nghiệm ban đầu này vẫn giữ một vai trò quan trọng, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của ngành hàng không tại Đông Dương về sau này.

Nguồn: Lược thuật dựa trên chuyên khảo Lịch sử ngành hàng không Đông Dương  (Nhà in Viễn Đông, 1930) - tài liệu trưng bày tại Triển lãm quốc tế thuộc địa Paris 1931.

Hoàng Hằng