03:59 PM 07/02/2024  | 

Cũng như các triều đại quân chủ chuyên chế nói chung, dưới triều Nguyễn, các vụ án văn chương thường gắn liền việc bảo vệ quyền uy, vị thế của chính thể và giới cầm quyền đương thời.

Tranh của Henri Oger mô tả cảnh xử phạt ở trường thi Văn

Trong văn chương khoa cử

Châu bản triều Nguyễn ghi lại nhiều vụ án văn chương trong khoa cử, liên quan tới những bài văn phạm húy, việc mang văn tự vào trường thi, Sơ khảo chữa bài cho thí sinh… Hình phạt có thể từ đánh trượng, đóng gông cho đến tội chết.

Mang văn tự vào trường thi

Bộ Lễ tâu về việc Giám sinh Đặng Tế Mĩ mang văn tự vào trường thi

Năm Minh Mạng 7 (1826), Giám sinh Đặng Tế Mĩ mang văn tự vào trường, bị đóng gông một tháng, đánh 100 trượng và cách bỏ khỏi sổ Giám sinh.

Sửa bài thi

Đặc biệt nghiêm trọng và nổi tiếng trong các vụ án văn chương khoa cử thế kỷ 19 là vụ án năm 1841 ở trường thi Thừa Thiên. Hai viên Sơ khảo là Cao Bá Quát và Phan Thời Nhạ ngầm lấy muội đèn làm mực chữa văn của thí sinh gồm 24 quyển. Cao Bá Quát nhận là “sính bút làm càn”. Án xử Cao Bá Quát, Phan Thời Nhạ tội xử tử, sau đều cho đổi thành giảo giam hậu.

Kiêng húy

Bộ Lễ tâu về bàn định lệ kiêng húy trong thi Văn

Bài thi của thí sinh phải tránh viết những chữ húy kị của triều đình. Đó là tên tất cả các đời vua, ông bà tổ tiên vua, hoàng hậu; tên lăng, miếu, cung, điện, làng quê của vua…

Văn chương ngoài khoa cử

Cũng như các triều đại quân chủ chuyên chế nói chung, dưới triều Nguyễn, các vụ án văn chương thường gắn liền việc bảo vệ quyền uy, vị thế của chính thể và giới cầm quyền đương thời.

 “Quần tiên hiến thọ”

Nhân dịp mừng thọ 50 tuổi, vua Minh Mạng sai Nguyễn Bá Nghi viết vở Quần tiên hiến thọ theo cấu tứ và hướng dẫn của nhà vua. Khi đó, đúng khoảng thời gian mưa dầm, Tuần phủ Nam Ngãi Vương Hữu Quang được nhà vua sai làm lễ cầu tạnh tại miếu Đô thành hoàng. Cầu suốt một ngày mà trời mưa không dứt, Vương Hữu Quang cho rằng nguyên nhân là do vua Minh Mạng đụng chạm đến thần linh khi nhà vua nói đùa ở điện Văn Minh và cho diễn vở Quần tiên hiến thọ tại Duyệt Thị Đường. Vì vậy Vương Hữu Quang “xin đốt sách ấy đi để tạ trời đất thần minh”. Theo lệnh của vua, Vương Hữu Quang bị cách chức, giam lại. Sau đó, vua gia ơn giáng ông làm Tư vụ Bộ Công.

Tội “bội nghịch” có yếu tố văn chương

Năm 1833, nổ ra loạn Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn Duyệt). Năm 1835, Lê Văn Duyệt cũng bị luận tội. Khi lời đình nghị dâng lên, Duyệt vì lời nói và việc làm bội nghịch, có 7 tội đáng chém, 2 tội đáng xử thắt cổ chết. Đó là cố xin dung nạp sứ giả Diến Điện để hòng bào chữa điều mình đã sai trái. Nói với người ta về việc xin được thơ tiên giáng bút có câu “Trần Kiều” và “Hoàng bào”. Sau đó, Lê Văn Duyệt bị san bằng mồ mả và dựng bia đá lên trên, khắc chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (Chỗ hoạn quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu tội chết).

Núp bóng hoạt động văn chương

Xét bản án đối với thân thuộc của nghịch phạm Đoàn Hữu Trưng

Năm 1866, Đoàn Trưng cùng với Đoàn Hữu Ái, Đoàn Tú Trực, Trường Trọng Hòa, Phạm Lương kết hội Đông Sơn thi tửu, ngầm mưu việc lật đổ vua Tự Đức để lập Đinh Đạo (tức Nguyễn Phúc Ưng Đạo – con trai trưởng của anh vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Hồng Bảo) lên ngôi. Đoàn Hữu Trưng cùng các nhân vật trọng yếu đều bị lăng trì bêu đầu, bắt thân thuộc, tịch thu gia sản để sung công.

Ở đây, một hoạt động chính trị đã núp bóng hoạt động văn chương và sự trừng phạt của triều đình chủ yếu nhắm tới hoạt động chính trị, không hẳn là vấn đề “thi tửu”.

Hồng Nhung