11:07 AM 06/06/2022  | 

Châu bản trong nền hành chính triều Nguyễn

Các học giả dân tộc chủ nghĩa gợi ý về hình ảnh của Minh Mạng như một nhà cải cách và một người thống nhất những chuẩn mực của một quốc gia dân tộc hơn là những tính cách thực tế và hoạt động có tính chất cá nhân của ông. Châu bản giúp chúng ta hiểu thêm nhiều khía cạnh mới về nền hành chính ở Huế và các ý đồ chính trị của nhà vua Nguyễn nhằm xác lập khuôn khổ cho một trật tự quyền lực mới liên quan tới sự vận hành của bộ máy nhà nước ở TW và địa phương. Dấu ấn của Minh Mạng được thể hiện sâu đậm trong quá trình này, đặc biệt là tham vọng của ông xây dựng hệ thống thể chế làm khuôn khổ cho muôn đời. 

Tài liệu Châu bản đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh cách thức vận hành nền hành chính ở Huế gần như trong suốt nền cai trị của vương triều Nguyễn, đặc biệt là những thay đổi dưới thời Minh Mạng mà chúng tôi đề xuất có thể được gọi tên là “nền hành chính Châu bản”. Lý do bởi vì mọi hoạt động quản trị nhà nước từ khi Minh Mạng lên ngôi đều phải được văn bản hóa và quản lí cực kỳ nghiêm ngặt, giám sát lẫn nhau, thống kê, thu thập vào cuối mỗi tháng, đóng thành tập lưu trữ. Đối với các tấu sớ thì phải có châu phê của nhà vua để đưa đi thi hành. Vì thế, nhà vua lập thêm một cơ quan hành chính mới là Văn thư phòng (từ năm 1830 là Nội các), thông qua cơ quan này để dịch chuyển dòng văn bản hành chính về điện Cần Chánh - như văn phòng làm việc thường trực của hoàng đế.

Quá trình dịch chuyển dòng văn bản hành chính và sự thay đổi các thiết chế liên quan đều được phản ánh qua Thực lục. Tuy nhiên, toàn bộ quá trình này được hiện thực hóa trên chính các Châu bản. Mỗi Châu bản, với dấu ấn văn bản học của chúng, chính là sự thể hiện rõ ràng nhất cho các chuyển dịch thiết chế này, từ thay đổi con dấu, quan chức Văn thư phòng, Nội các, tới quy cách chữ ký, xác nhận, đóng dấu quan phòng…

Cấu trúc mạng lưới luân chuyển văn bản hành chính triều Nguyễn. Nguồn: Vũ Đức Liêm

Điều này được phản ánh một cách rõ nét trên Châu bản triều Minh Mạng. Đầu tiên và quan trọng nhất là sự xuất hiện của châu phê. Sau đó là sự xuất hiện của hệ thống con dấu và những người phụng thảo, phụng duyệt, phụng châu phê… Những yếu tố này phản ánh ba xu thế quan trọng của nền hành chính thời Minh Mạng:

Thứ nhất là tính thiết chế hóa ngày càng chặt chẽ gắn liền với sự ra đời của các cơ quan mới. Trong khoảng 15 năm cầm quyền đầu tiên, Minh Mạng đã tái cấu trúc lại toàn bộ nền hành chính của vương triều cả ở TW và địa phương, hoàn thiện về cơ bản các cấu trúc chính trị mà vương triều Nguyễn sẽ sử dụng tới tận những năm đầu thế kỷ XX. Ở TW, đó là sự xuất hiện của Văn thư phòng (thống nhất) và sau đó là Nội các và Cơ mật viện. Ở địa phương là hệ thống các tỉnh.

Thứ hai là tính kiểm soát, giám sát lẫn nhau ngày càng gia tăng.

Ba loại dấu xuất hiện trong bản chiếu năm 1813 (Ngày 01/05/1814 (GL13/3/12), bao gồm: Văn lý mật sát (文理密察, 2.8 x 2.8 cm), Thủ tín thiên hạ văn võ quyền hành 取信天下文武權行 (4 x 5 cm.), Quốc gia tín bảo (國家信寶, 11.5 x 11.5 cm).[1]

Bản thượng dụ thời Minh Mạng, với sự gia tăng vai trò của thông tin hành chính liên quan tới văn bản cho thấy một quá trình kiểm soát thông tin nghiêm ngặt được xác lập liên quan tới quá trình biên soạn, kiểm soát, sao chép, sao lưu, duyệt và gửi văn bản đi thực thi.

Bản phụng thượng dụ biên soạn bởi Hà Tông Quyền và Hoàng Quýnh về việc thưởng phạt binh lính. Ngày 05/09/1835 (MM16/7/13). Nguồn: CBTN, MM, 54: 92.

Thứ ba là sự gia tăng vai trò cá nhân của nhà vua trong việc điều hành hệ thống hành chính. Với tỉ lệ hơn 60% các văn bản thời Minh Mạng có lưu lại châu phê, chúng cho thấy vai trò quan trọng của việc hoàng đế trực tiếp làm việc với hệ thống hành chính văn bản giấy tờ. Một bộ sách khác được biên soạn rất đồ sộ dưới thời Minh Mạng là Khâm định tiễu bình Lưỡng kỳ nghịch phỉ phương lược chính biên cho thấy quy mô hàng nghìn bản chiếu chỉ, đạo dụ… được ban hành liên quan tới các vấn đề quân sự.[2]

Hệ quả của quá trình hành chính hóa và thiết chế hóa các quy tắc, quy phạm xử lí, thực hành văn bản này là việc văn bản hành chính được quản lí chặt chẽ, giám sát từng khâu, từ quá trình soạn thảo, luân chuyển, giám sát, xét duyệt, trình bày ý kiến đề xuất, châu phê và thi hành. Sự gia tăng các văn bản trao đổi trong kho Châu bản cho thấy hoạt động bàn bạc, liên lạc, liên kết thông tin phức tạp giữa các cơ quan ở Huế.

Số lượng các văn bản trao đổi còn lại trong kho Châu bản triều Minh Mạng. Nguồn: Vũ Đức Liêm

Tỉ lệ số lượng văn bản còn lại trong bộ sưu tập Châu bản năm 1837. Nguồn: Vũ Đức Liêm

Sự gia tăng số lượng Châu bản, đặc biệt văn bản hoàng đế cho thấy sự gia tăng quy mô, tầm mức của nền hành chính thời Minh Mạng, gắn với mở rộng mạng lưới soạn thảo và lưu thông văn bản. Một trong những kết quả lớn nhất của các thay đổi hành chính do Minh Mạng tạo ra chính là việc xác lập một hệ thống vận hành văn bản xoay quanh nhà vua, với trung tâm là Nội các và Cơ mật viện. Quá trình vận hành hiệu quả, nhanh chóng, tính bảo mật… của hệ thống này chính là cơ sở góp phần tạo nên sức mạnh của nền hành chính triều Nguyễn, giúp thực hiện được nhiều sứ mệnh chính trị, quân sự, hành chính, kinh tế, an ninh quốc phòng lớn như việc đánh dẹp các thế lực chống đối, mở rộng lãnh thổ sang các khu vực ngày nay là Lào và Cambodia, xác lập hệ thống hành chính cấp tỉnh tại Việt Nam, hoàn tất quá trình thống kê và biên chép địa bạ, đinh bạ trên phạm vi cả nước. 

Những thế giới ẩn giấu sau trang tài liệu lưu trữ

Chức năng trực tiếp của văn bản hành chính là tham gia vào hệ thống truyền tin, lưu trữ thông tin và thực thi quyền lực. Để làm được điều đó, nó yêu cầu sự giám sát, quản lí chặt chẽ của các cơ quan để chắc chắn là tất cả thông tin đều được kiểm chứng và không ai có đủ quyền lực để thay đổi thông tin trên các văn bản này. Để làm được điều đó, ngoài việc thay đổi hệ thống thiết chế chính trị, bản thân các văn bản hành chính cũng cần có sự tổ chức khoa học, chặt chẽ mà bất cứ sự thay đổi hay lũng đoạn thông tin nào sẽ bị phát giác. Minh Mạng rõ ràng đã hiểu rõ tầm quan trọng của điều này cũng như ý thức hệ quả của việc nhà Thanh trao quyền quản lí hệ thống thông tin này vào trong tay một vài cá nhân, làm cho nó dễ bị thao túng. 

Minh Mạng ý thức rất rõ tầm quan trọng của các dấu hiệu văn bản như một sự thực hành quyền lực. Chính điều này đã đưa vị vua trẻ đến việc vận hành nền chính trị “châu Phê”. Thực tế là Gia Long cũng tiến hành một số phê duyệt trên các bản tấu, tuy nhiên, cả Minh Mạng và chính sử triều Nguyễn đều tuyên bố rằng các bản phê bắt đầu từ triều Minh Mạng[3]. Sự xuất hiện khái niệm “châu phê” là bước đánh dấu quan trọng cho nhận thức về quyền lực của văn bản trong nền hành chính triều Nguyễn. Dù trước đó, đã có các châu phê thực hiện bởi vua Gia Long. Ý nghĩa của khái niệm châu phê là một sự công nhận chính thức cho tính chính thống và quyền lực của văn bản. Các văn bản châu phê vì thế là bức thông điệp của quyền lực tyệt đối vì nó mang theo các quyết định cuối cùng.

Các yếu tố văn bản và sự chuẩn hóa, tái cấu trúc của chúng dưới thời Minh Mạng rõ ràng là một phần của dự án chính trị trong đó vị vua xác lập quyền cai trị trực tiếp thông qua kiểm soát nguồn thông tin, tư vấn các viên chức và ra các quyết định bằng lời phê (hoặc chỉ dụ riêng). Tính chính thống quyền lực của văn bản ở đây như một công cụ và một thiết chế chính trị. Vì thế, cấu trúc văn bản được thể chế hóa và tính biểu tượng của văn bản được tuyệt đối hóa. Bất cứ sự xâm phạm nào đối với các văn bản hành chính chính là sự thách thức quyền lực vương triều và tính chính thống của nó[4]. Trong rất nhiều các bản tấu đề cập đến việc Minh Mạng yêu cầu trừng phạt viên chức bất cẩn làm rách chỉ dụ. Trong một công văn của Bộ Binh (niên đại Minh Mạng 19 - 3 - 13), các viên chức đã nhận lỗi để dầu thấm vào chỗ đóng giáp lai của 4 trang bản sao công văn và làm một văn bản chứng thực[5]. Tất cả những sữa chữa trong văn bản trở thành vấn đề nghiêm trọng và thường phải thông qua các bản tấu sớ làm bằng để xin sửa chữa lại. Minh Mạng 19 - 4 - 28, hoàng tử Miên Định đã làm tấu xin nhận lỗi khi viết nhầm thứ tự người con thứ 13 thành 14 trong một tập tâu trước đó, và xin xử phạt những người viết sai.[6] Bất cứ sự chậm trễ công văn nào cũng sẽ phải trả giá bằng các hình phạt, nếu như không làm tấu xin gia hạn[7].

Các văn bản hành chính triều Nguyễn vì thế không chỉ có vai trò thông tin liên lạc - kết nối quốc gia mà còn là một thiết chế tham gia trực tiếp vào xác lập các đặc trưng chính trị dưới thời Minh Mạng. Hệ thống hành chính phân tán, mang nặng tính chất mệnh lệnh và dựa vào tầng lớp quân sự đã dần thay thế bằng lớp nho sĩ có học thức, quản lí đất nước dựa trên hệ thống văn bản phức tạp. Cả nhà vua và hệ thống quan liêu đều sử dụng hệ thống văn bản này như một công cụ hữu hiệu để gia tăng kiểm soát quyền lực. Vì thế mỗi bước biến chuyển của nền hành chính đều được phản ánh qua hệ thống văn bản, từ loại hình đến việc sử dụng các con dấu và cách thức tổ chức. Sự tương tác này hoàn toàn không phải ngẫu nhiên vì các văn bản này là một phần của dự án đó.

Với tất cả ý nghĩa đó, ẩn giấu phía sau các trang giấy là một thế giới sống động của con người, nhân vật, thời đại, xã hội, của các thách thức, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh… của một sự nghiệp hành chính lớn lao và của các tham vọng chính trị làm thay đổi số phận của nước Việt Nam hiện đại.

 


[1] CBTN, GL, 2: 101.

[2] Khâm Định Tiễu Bình Lưỡng Kỳ Nghịch Phỉ Phương Lược Chính Biên 欽定勦平兩圻逆匪方略正編, Viện Hán Nôm, Vhv.2701, 1836.

[3] TTLTQG1 2015, 22 - 27; Minh Mạng, 2000, Ngự chế văn, tờ 1.

[4] Nguyễn Văn Thành, Vũ Trinh, và Trần Hựu, 皇越律例 (Hoàng Việt Luật Lệ). 1818, quyển 4 - 5.

[5] Minh Mạng, Ngự chế văn, 6: 1 - 2.

[6] CBTN, MM, 68: 4.

[7] Châu bản Minh Mạng (65: 220) của Bộ Hình tâu về việc gia hạn xử lí các vụ án thêm 10 ngày để gửi bản tấu trình, và nhận được châu điểm của Minh Mạng.

TS. Vũ Đức Liêm