11:17 PM 26/09/2022  | 

Dưới triều Nguyễn, lệ cung tiến phẩm vật địa phương rất được coi trọng. Với quan niệm vào dịp lễ tiết, dành những của ngon vật lạ để dâng lên bề trên nên những đặc sản vùng miền được ưu tiên chọn lựa. Đặc sản đó có thể đặc biệt ở hình dáng, màu sắc, hương vị. Song có một loại quả tuy không đáp ứng các tiêu chí trên nhưng lại đặc biệt ở câu chuyện gắn liền với nó, đó là trái Nam trân của vùng đất Quảng Nam.

Nam trân, nghĩa là thức quí đất Nam, là mỹ tự được vua Minh Mệnh ban cho trái lòn bon. Lòn bon còn có nhiều tên gọi, miền Bắc gọi là dâu da đất, miền Nam gọi là bòn bon, người Quảng Nam gọi là loòng boong. Đó là một loại quả dân dã, mọc nhiều ở vùng rừng núi, có vị ngọt thanh xen lẫn vị chua nhẹ. Vì sao loại quả dân dã này được các vua triều Nguyễn hết mực yêu mến, không chỉ là phẩm vật cung tiến vào dịp tết Nguyên đán, các buổi tiệc thiết yến mà còn là quả phẩm trong mỗi dịp lễ giỗ, lễ mừng thọ?  Đó là bởi loại quả rừng dân dã ấy ẩn chứa một giai thoại đẹp về lòng nhân ái, về đạo lý uống nước nhớ nguồn.

 

 Tương truyền trong một lần giao tranh giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn, kết cục quân Nguyễn thua trận phải lánh vào rừng Quảng Nam, thượng nguồn Ô Gia. Trong lúc đói mệt, chúa Nguyễn gặp được rừng lòn bon liền hái mấy trái, lấy móng tay bấm lên vỏ mà ăn thử, thấy vị ngọt thanh lạ thường, nhờ đó vượt qua cơn đói khát. Sau ngày khải hoàn 1802, vua Gia Long đã cho rà soát để triều đình ghi ơn, trái lòn bon chính thức trở thành sản vật cung tiến. Triều Minh Mệnh đặt chức Quản Nam Trân để quản lý và quy định mỗi kỳ trái chín phải tiến vua. Khi cho đúc Cửu đỉnh, cây Nam trân đã vinh dự được vua Minh Mệnh cho khắc lên Nhân đỉnh, tức đỉnh thứ nhì ở sân Thế Miếu trong Hoàng thành Huế.

Hình tượng cây Nam trân khắc trên Nhân đỉnh. Nguồn: Sưu tầm

Từ một loại quả rừng, Nam trân của vùng đất Quảng Nam đã trở thành sản vật cung tiến vào dịp tết Nguyên đán. Sự ưu ái của vua Nguyễn dành cho loại quả dân dã ấy trọn vẹn ở tấm lòng. Bởi mặc dầu có năm, vị của quả đó hơi chua nhưng vua Tự Đức vẫn quyết định chọn để thưởng yến “Bộ Lễ tâu trình: Ngày mồng 8 tháng này, nhận được tờ tư của lãnh Đốc thần Quảng Nam Trần Hoằng đệ trình 12 sọt quả nam trân. Bộ thần đã đưa Thị vệ xứ dâng nộp, cung tiến xong xuôi. Nhưng xét thấy trong tờ tư trình bày: Khi kiểm tra loại quả đó thì vị của nó hơi chua, có nên tiếp tục đệ trình lên hay không, xin phúc trình tuân theo để giải quyết. Loại quả đó liên quan đến việc cung tiến, vậy có nên tiếp tục lựa chọn đệ trình lên hay không. Kính xin trình bày chờ chỉ tuân theo để giải quyết.

Châu phê: Đến gần ngày tết Nguyên đán, chọn để đệ trình lên cho đủ thường yến.”[1]

Châu phê của vua Tự Đức về việc chọn quả Nam trân để thưởng yến vào dịp tết Nguyên đán. Nguồn: TTLTQGI

Đúng dịp lễ Vạn thọ khánh tiết, lúc này cây Nam trân đang vào mùa đơm hoa nhưng vẫn được ưu ái “đợi quả chín sẽ hái dâng lên”. Châu bản triều Tự Đức có ghi chép cụ thể rằng “Vâng xét hàng năm vào dịp Vạn thọ khánh tiết,  theo lệ các địa phương cung tiến đặc sản. Trừ hai tỉnh Hà Nội, Gia Định đã dâng phẩm vật nhà Thanh, tỉnh Tuyên Quang dâng tuyết lê, các nơi này đều đã cho người đến dâng, bộ thần đã giao nộp Thị vệ xứ vâng nộp. Ngoài ra chỉ có quả Nam trân theo tờ tư của tỉnh thần Quảng Nam Trần Hoằng trình cây Nam trân hiện đang ra hoa, đợi đến khi kết quả chín hái sẽ dâng lên”[2]

Không chỉ là sản vật cung tiến trong các kì đại lễ, trái Nam trân còn là quả phẩm không thể thiếu trong các lễ giỗ ở hoàng cung. Việc vận chuyển quả phẩm từ các địa phương về Kinh được các vua Nguyễn rất coi trọng. Để tránh việc vận chuyển chậm trễ làm ảnh hưởng đến chất lượng quả phẩm, vua Tự Đức đã ra chỉ dụ “ Truyền cho bộ Lễ tra chiếu các địa phương có các loại sản vật thổ nghi, mỗi dịp tiết lễ phải đệ nạp trước 2,3 ngày để dự trữ ban cấp. Lập tức trù tính phúc trình, sau cứ thế mà ban hành”[3]

Qui định như vậy nhưng trong một lần vận chuyển trái Nam trân về Kinh, vì bị trễ 3 ngày nên 7 trạm đã phải nhận hình phạt “…Ngày 27 tháng 9 nhận được tờ tư do bộ Lễ sao lục giao cho quyền phủ thần Nam Ngãi Chu Đình Kế trình rằng: Ngày tháng đó kính gặp lễ kị, theo lệ kính dâng quả Nam trân nhưng xét niên hiệu của tờ sao lục thì thấy đề ngày 24 tháng 9, (vậy mà) đến giờ Ngọ ngày 27 mới nhận chuyển, thật là chậm trễ. Xin giao cho bộ thần xem xét giải quyết. Bộ thần tuân theo sức cho thuộc viên tra xét gồm có tất cả 7 trạm, xin chiếu theo lệ  mà phạt tội”[4]

Tháng 8 âm lịch hàng năm, ấy là mùa lòn bon chín rộ, kể lại câu chuyện về quả rừng của vùng đất Quảng Nam để “ôn cố nhi tri tân”, để nêu cao truyền thống tốt đẹp của các bậc tiền nhân.

 


[1] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức. Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

[2] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

[3] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

[4] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Hải Yến