07:51 PM 27/07/2022  | 

Ngày nay, vỉa hè ở các thành phố nói chung và Hà Nội nói riêng đang phải "kiêm nhiệm" nhiều công việc khác hẳn với mục đích xây dựng ban đầu. Tuy nhiên, đầu thế kỷ 20, đã có những giai đoạn Hà Nội áp dụng nhiều quy định về quản lý vỉa hè và đảm bảo đường thông, hè thoáng.

Trong quy hoạch một đô thị văn minh, vỉa hè là khoảng công cộng dành cho người đi bộ. Còn theo kiến trúc, vỉa hè là đường diềm, trang trí cho phố phường tạo ra sự hài hòa giữa đường và nhà mặt phố[1].

Theo nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến, trước thời Pháp thuộc, Hà Nội chỉ có vài đường ở khu vực “36 phố phường” được lát gạch, còn lại là đường đất chật hẹp, các phố không có vỉa hè[2]. Hồi ký của Bonnal cũng cho biết “Các phố nói chung khá hẹp, được lát theo kiểu Tàu, tức là chỉ lát phần giữa đường trên một chiều rộng khoảng 1 mét và những viên gạch lát vuông bằng đất nung phần lớn đã bị vỡ hoặc bong ra. Hai bên đường là những rãnh nước bẩn tù đọng…[3].

Từ năm 1884, Hồ Gươm trở thành trung tâm trong công cuộc quy hoạch thành phố Hà Nội. Chính quyền Pháp cho mở một con phố nối khu Nhượng địa với Trường Thi và Hoàng Thành cũ - chính là phố Hàng Khảm, sau đổi tên thành phố Paul Bert (Tràng Tiền - Hàng Khay), chuẩn bị cho việc hình thành khu phố Tây ở phía Đông và Nam hồ Gươm. Cuối năm 1885, phố Hàng Khảm đã được thi công xong và đến năm 1887 thì phố này được lát vỉa hè với mép bằng gạch[4]. Nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến khẳng định đây chính là tuyến phố đầu tiên có vỉa hè theo kiểu đô thị phương Tây ở Hà Nội[5].

Từ tháng 10/1886 đến năm 1888, khu phố Pháp ở phía Đông hồ Gươm và phía Bắc trục đường Paul Bert dần được hoàn thiện. Cùng với việc xây khu phố mới ở phía Đông và Nam hồ Gươm, chính quyền thành phố cũng ban hành nhiều quyết định cải tạo khu phố Ta, cấm dân không được làm nhà lá, các hộ phải xây thẳng theo quy định, phải chừa đất làm vỉa hè, làm rãnh thoát nước[6].

Năm 1897, chính quyền đã làm 45.500 m đường ở khu phố Ta, tuy nhiên nhiều đường phố vẫn là đường đất và thành phố dự kiến sẽ chi 96.000.000 đồng cho việc làm vỉa hè các phố trong năm này[7].

Sơ đồ các tuyến phố đã có vỉa hè và dự kiến làm vỉa hè ở Hà Nội năm 1897/(TTLTQGI/RST 75619)

Vỉa hè phố Jules Ferry và đại lộ Francis Garnier được thi công theo Nghị quyết của Hội đồng thành phố ngày 27/4/1899 và đến năm 1900 thì hoàn thiện[8].Tính đến năm 1901 thì vỉa hè các phố Paul Bert (Tràng Tiền - Hàng Khay), Camps des Lettrés (Tràng Thi), de la Mission (Nhà Chung), đại lộ Francis Garnier (Đinh Tiên Hoàng), Henri Rivière (Ngô Quyền), Đồng Khánh (Hàng Bài), Gia Long (phố Huế), Rollandes (Hai Bà Trưng) đã được lát gạch[9].

Trong 4 năm 1897-1901, khoảng 5 cây số vỉa hè tiếp tục được lát gạch hoặc đá. Hội đồng thành phố cũng đưa nội dung chỉnh trang vỉa hè vào kế hoạch cải tạo đồng thời biểu quyết sử dụng ngân sách để tiếp tục lát vỉa hè ở những phố lớn khu trung tâm[10]. Vỉa hè được lát bằng đá hình vuông khổ 30x30cm, dày 3cm. Vỉa hè có chiều rộng ít hơn 4m sẽ được lát gạch toàn bộ còn hơn 4 mét thì chỉ lát 1m80 giữa vỉa hè và hàng năm, sẽ ấn định danh sách các đường phố, công viên, quảng trường cần phải làm vỉa hè[11].

Từ khi vỉa hè ra đời, cùng với việc cho thuê vỉa hè, chính quyền Pháp đã ban hành nghị định quản lý đô thị, trong đó có việc quản lý vỉa hè đòi hỏi tính tự giác cao của những người dân sống ở khu vực mặt phố:

Xác định việc làm đường và vỉa hè quá tốn kém nên công sứ Bonnal đã sử dụng các tù nhân có án nhẹ và nhân công do các trưởng phố cung cấp hoặc buộc các chủ nhà mặt phố phải rãnh thoát nước và lát hè bằng gạch trước cửa nhà họ[12].

Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 03/7/1896 quy định “thành phố và chủ đất mặt phố mỗi bên chịu một nửa chi phí làm vỉa hè”(TTLTQGI/MHN 4187).

Năm 1903, chính quyền thành phố đã quy định chủ đất mặt phố phải chịu một phần chi phí để làm vỉa hè (1 đồng 20 xu/m2), chi phí sửa chữa cải tạo (15 xu/m2) cùng với mọi chi phí phát sinh như sửa chữa nhà cửa theo quy hoạch đường phố. Người dân mà làm hỏng vỉa hè sẽ phải chịu mọi chi phí làm lại vỉa hè[13].

Để đảm bảo đường phố được thông thoáng, sạch đẹp, chính quyền cũng ban hành những quy định về việc sử dụng vỉa hè để bán hàng. Theo đó việc bán hàng trên vỉa hè sẽ được cấp phép theo từng năm và chỉ được diễn ra trên các phố trong khu buôn bán (khu phố cổ ngày nay). Người bán hàng chỉ được sử dụng 0m50 đối với những vỉa hè rộng từ 3-4 m và 1m đối với vỉa hè rộng trên 4m[14].

Với nghị định ngày 10/6/1933, chính quyền thành phố đã cho phép các hàng rong đã đóng thuế và có giấy phép được qua lại các phố nhưng chỉ được đỗ lại đủ thời gian để bán hàng cho khách, không được đỗ ở một nơi nào cố định… Người nào muốn bán hàng nguyên một chỗ thì phải làm đơn[15].

Phố Tràng Tiền xưa (nguồn: sưu tầm)

Khi cửa hàng kinh doanh buôn bán mọc trên ngày càng nhiều trên mặt phố, lượng người bán hàng rong trên phố phường Hà Nội ngày một đông, ảnh hưởng ít nhiều đến việc kinh doanh của các cửa hàng cố định thì thành phố đã ban hành quy định: bán hàng ở cửa các nhà tư gia thì phải được sự đồng ý của chủ nhà; bán hàng ở những địa điểm thuộc về công thổ phải có sự thỏa thuận của Ty Địa chính TP;bán hàng ở những gia thổ vắng chủ phải có sự thỏa thuận của Ban Quản lý Bất động vắng chủ (Phòng Pháp chế của Tòa Thị chính) và những nơi không được cấp phép bán hàng trên vỉa hè vì lý do trật tự và an ninh chung gồm:

  • Xung quanh các công sở
  • Vỉa hè sát với các chợ và cách chợ trong vòng 50 thước tây
  • Xung quanh ven hồ Hoàn Kiếm
  • Các công viên
  • Đê Cổ Ngư
  • Những nơi gần địa điểm quân sự và đường phố chật hẹp[16].

Phố Hàng Bạc xưa (nguồn: sưu tầm)

Nhìn vào một số bức ảnh Hà Nội đầu thế kỷ 20, có thể nhận thấy nhiều con phố ở trung tâm thủ đô như Tràng Tiền, Hàng Khay, Hàng Bạc… đều có vỉa hè tuy không quá rộng nhưng thông thoáng. Có lẽ một phần là nhờ số tiền thu được từ việc cho thuê hè phố và các quy định về quản lý và sử dụng vỉa hè như trên. Nhưng ngày nay, vỉa hè luôn nhộn nhịp từ sáng sớm đến đêm khuya. Vỉa hè dường như không còn dành cho người đi bộ như “sứ mệnh” vốn có của nó mà trở thành nơi kiếm sống, chen chúc của người dân. Tự hỏi cái “văn hóa chiếm vỉa hè để kinh doanh buôn bán” đến bao giờ mới chấm dứt? Không biết đến khi nào cái “giấc mơ” làm cho “đường thông - hè thoáng” của thành phố mới trở thành hiện thực?

 


[1]Theo https://thanhnien.vn;

[2]Nguyễn Ngọc Tiến, Chuyện vỉa hè ở Hà Nội xưa. https://www.anninhthudo.vn/chuyen-via-he-o-ha-noi-xua-post447513.antd

[3]André Masson,  Hanoi pendant la période héroique 1873-1888, Paris, P. Geuthner, 1929 

[4]Nt;

[5]Xem chú thích 2

[6]André Masson,  Hanoi pendant la période héroique 1873-1888, Paris, P. Geuthner, 1929  

[7] TTLTQGI/RST/75619;

[8] TTLTQGI/MHN/139

[9] TTLTQGI/RST/6346

[10] Nguyễn Ngọc Tiến, tlđd.

[11] TTLTQGI/MHN/4187

[12]André Masson, Hanoi pendant la période héroique 1873-1888, Paris, P. Geuthner, 1929

[13] TTLTQGI/MHN/4187

[14] TTLTQGI/RST/58209

[15] TTLTQGI/MHN/2607

[16] TTLTQGI/SCDHN/801

Nguyễn Hằng