06:17 PM 25/05/2022  | 

Trong phông RST của TTLTQG I có một hồ sơ về kháng nghị chống lại công trình “Dự án cải tạo và xây cao con đường ngăn cách giữa hai hồ thành một con đê” (1) nhằm bảo vệ thành phố Hà Nội trong mùa nước sông Hồng lên cao. Sức hút kỳ lạ chỉ riêng qua mấy dòng tiêu đề hồ sơ cũng đủ thúc đẩy bất cứ người nghiên cứu nào về Hà Nội thời cận đại đi sâu tìm hiểu nội dung dự án và hàng loạt lá đơn kháng nghị của những người quan tâm đến vẻ đẹp của thủ đô và các di tích lịch sử ở Hà Nội.

Trích bản đồ tỷ lệ 1/25.000 con đê dự định xây ngăn cách Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch trong hồ sơ số 78. 693, phông RST. Nguồn Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Dự án về con đê ngăn cách giữa hồ Tây[2] và hồ Trúc Bạch nhằm khắc phục mối lo về việc vỡ đê sông Hồng đoạn từ Yên Phụ đến làng Nhật Tân sẽ gây ra nạn lụt cho Hà Nội do Sở Đô thị Hà Nội nghiên cứu và đề xuất, được đem ra thảo luận trong phiên họp thường kỳ của Hội đồng Thành phố vào tháng 9-1927 và được đa số các ủy viên chấp thuận. Dự án được ghi vào danh mục các công trình lớn về đê điều của thành phố do Tổng Thanh tra Công chính Đông Dương soạn thảo cho mùa xây dựng 1927-1928. Nếu dự án được thực hiện thì việc đầu tiên là phải chặt toàn bộ cây cổ thụ ven hồ và phải đình chỉ giao thông trên quãng đường này trong suốt thời gian đắp đê.

Cuối năm 1929, khi dự án về công trình xây con đê ngăn cách giữa hai hồ phía Bắc Hà Nội chuẩn bị đưa vào thực hiện thì ngày 17-12-1929, Thống sứ Bắc Kỳ nhận được một bức thư của Nores, Chủ tịch Hội Địa lý Hà Nội (kèm theo bức thư là bản sao bức thư đề ngày 16-12-1929 của Nores gửi Đốc lý Hà Nội khiếu nại về công trình trên). Trong thư, Hội Địa lý khẩn thiết yêu cầu sự can thiệp cao nhất của Thống sứ Bắc Kỳ và Đốc lý Hà Nội để hủy bỏ dự án trên, nhằm mục đích “cứu những di sản của cái đẹp và dấu ấn của màu sắc thuộc địa, nhằm bảo vệ số ít những góc yên tĩnh của thành phố”, “bảo vệ toàn vẹn những phong cảnh duyên dáng nhất, tuyệt vời nhất của vùng ngoại ô Hà Nội”.

Tiếp đó, ngày 18-12-1929, quyền Giám đốc Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp L. Finot cũng gửi cho Đốc lý Hà Nội công văn số 2741, yêu cầu HĐTP nghiên cứu một dự án mới thay cho dự án nâng cao con đường ngăn cách giữa hai hồ phía Bắc của thành phố, vì việc thực hiện dự án này “chắc chắn sẽ phá hủy cảnh đẹp của Hà Nội” và “làm mất đi khung cảnh truyền thống của hai di tích lịch sử đã được xếp hạng là đền Trấn Vũ và chùa Trấn Quốc”.

Rất nhanh chóng, thư của Hội Địa lý Hà Nội và công văn của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp đã được chuyển lên Phủ Toàn quyền Đông Dương. Ba ngày sau, ngày 21-12-1929, công văn “Thượng khẩn” số 4244-C do Toàn quyền P. Pasquier ký đã được đưa tới Phủ Thống sứ Bắc Kỳ, ra lệnh “ngăn chặn ngay công việc sắp được thực hiện là nâng cao con đê ngăn cách giữa hồ Tây và hồ Trúc Bạch, đình chỉ giao thông ở quãng đường này trong một thời gian dài và chặt các cây cổ thụ ở ven hồ”. Và ngày 26-12-1929, Đốc lý Hà Nội Delsalle đã phải gửi lên Thống sứ công văn số 1752-A, tường trình lại toàn bộ dự án và quá trình điều tra về các ý kiến không tán thành dự án này.

Cổng vào chùa Trấn Quốc cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Ảnh sưu tầm.

Cổng vào đền Quán Thánh cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, hồ Tây sát mép đền. Ảnh sưu tầm.

Các bậc thềm dẫn từ hồ Tây lên đền Quán Thánh. Ảnh của André Firmin Salles chụp năm 1896. Ảnh sưu tầm.

Nhưng sự việc không dừng lại ở đó. Đầu năm 1930, tuy việc thực hiện dự án đã bị Thống sứ ra lệnh đình chỉ tạm thời (theo lệnh của Toàn quyền Pasquier), nhưng việc nghiên cứu để đưa ra giải pháp chống lụt mới cho thành phố còn chưa được xúc tiến mà vẫn chỉ dừng lại ở các công văn trao đổi giữa Phủ Toàn quyền, Phủ Thống sứ và cơ quan chuyên môn là Khu Công chính Bắc Kỳ. Chính vì vậy, việc kháng nghị chống lại dự án đã được đẩy lên một bước cao hơn, có quy mô hơn và có sức thuyết phục hơn.

Ngày 15-1-1930, phụ trách Phòng Dân sự của Tòa Đốc lý Hà Nội  Feysal, ủy viên của HĐTP thay mặt một nhóm ủy viên của Hội đồng gửi lên Toàn quyền Đông Dương một bức thư kháng nghị dài 9 trang với 17 chữ ký, trong đó có chữ ký của một ủy viên người Việt tên là Lê Nguyễn. Sức thuyết phục của lá thư này ở chỗ, qua việc phân tích những điểm bất hợp lý của dự án cả về phương diện kỹ thuật lẫn mỹ thuật, các tác giả đã hướng tới một giải pháp hợp lý hơn về cả hai phương diện nêu trên.

Sau những câu mở đầu lịch thiệp, các tác giả bày tỏ mong muốn của mình là “quyết định tạm thời đình chỉ dự án của ngài Thống sứ sẽ trở thành quyết định vĩnh viễn” và đề cập ngay tới công trình của dự án: “Công trình gây nên cuộc tranh luận hiện nay, theo Sở Thủy lợi, bắt nguồn từ một vài chỗ xung yếu của đê Yên Phụ, đoạn từ sông Hồng đến hồ Tây, trong khu vực giữa đường vành đai (chỗ Nhà máy chất nổ) và đồn Cảnh sát.

Theo Sở Thủy lợi thì, nếu một trong những điểm xung yếu trên bị vỡ, nước hồ Tây sẽ tràn qua đường Trúc Bạch và sẽ tràn vào thành phố do những chỗ bị vỡ giữa đê Parreau[3], đê Yên Phụ và kè Clémenceau[4]. Trong trường hợp đó, một biện pháp phải được thực hiện ngay: gia cố đê Yên Phụ và đê Parreau bằng cách khóa chặt khoảng trống giữa hai công trình trên. Muốn thế, cần phải nâng độ cao của đường Trúc Bạch lên khoảng 2m50, và phải sửa lại hướng của con đường đó, nối nó với kè và đê nói trên.

Thế nhưng, các công trình đê điều do ngân sách liên bang chịu trách nhiệm. Vì vậy, việc chống lụt cho thành phố ước tính khoảng hơn 50.000 đồng Đông Dương sẽ không do ngân sách của thành phố đảm bảo”.

Phân tích những điểm bất hợp lý của Dự án, lá thư viết:

Chương trình này thoạt nhìn thì có vẻ hợp lý, song nếu xét lại cho thật kỹ thì sẽ thấy những điểm bất cập rất quan trọng.

Trước hết cần phải nhận thấy rằng, từ khi dự án đó được nghiên cứu và lần đầu được trình bày trước HĐTP, thì thành phố Hà Nội đã thay đổi rất nhiều. Việc mở rộng khu phía Tây, nhiều công trình xây dựng liên tục trên khu Thành cổ, xung quanh hồ Trúc Bạch, trong khu Blockhaus-Nord[5], và ngay cả dọc theo đê Parreau, làm cho người ta phải tính đến việc cần thiết thực hiện trong một thời gian gần đây và mở ra một vùng ngoại ô thuộc phạm vi thành phố, khu vực Hồ Tây và các vùng phụ cận, thực ra đúng như dự án của Hébrard[6]. Trong những điều kiện đó, sự hiện diện của một con đê nội địa cắt đôi thành phố ra làm hai mảnh là một sự nhầm lẫn tai hại cho việc quy hoạch và an toàn của các khu mới.

Mặt khác, nếu nhớ lại xuất xứ của sự việc này, người ta nhận thấy, để chứng minh cho việc biến đổi con đường Trúc Bạch thành một con đê, cơ quan chịu trách nhiệm đã trình bày rằng đê Yên Phụ có một vài chỗ không được vững chắc lắm. Nhưng ở điểm này, một câu hỏi được đặt ra: trước khi xây một công trình mới, tại sao không củng cố công trình hiện tại cho thật chắc chắn, mà người ta còn nói là chưa bao giờ thấy nó có biểu hiện suy yếu. Sự nhận xét đó lại càng đúng vì hiệu quả của công trình định làm đã không chứng minh được. Trên thực tế, nếu việc nối công trình đó với đê Yên Phụ có vẻ dễ dàng, thì việc nối với đê Parreau trong chừng mực cần thiết lại có nhiều khó khăn lớn về mặt kỹ thuật mà hình như dự án không giải quyết hết được. Thí dụ như con đường cũng có lưu lượng giao thông lớn[7] như con đường từ làng Giấy[8] đến Trường Trung học Bảo hộ[9] có đường xe điện chạy qua mà sự tồn tại của nó đặt ra những vấn đề mới chỉ có thể bàn qua. Đấy là chúng tôi còn chưa nói đến sự bất cập của công trình khi người ta đổ đất xuống lòng hồ còn chưa biết rõ độ sâu, và vì con đường cũ nếu bị bỏ đi, những đống đất có thể gây nên những điều bất ngờ. Vì vậy chúng tôi có quyền đòi hỏi cho sự an ninh cần thiết cho thành phố phải được đảm bảo bằng cách củng cố đê mà cơ quan có trách nhiệm phải bảo dưỡng, trước khi làm đảo lộn khu vực nội thành trong nay mai”.

Đề cập tới những bất hợp lý về phương diện mỹ thuật của dự án, lá thư viết:

Con đường Yên Phụ tạo ra trong thành phố Hà Nội xinh đẹp một phong cảnh đô thị tuyệt vời nhất, dễ chịu nhất, đặc biệt nhất. Dải ruy-băng này chạy dài, có cây cối bao bọc xung quanh, giữa hai tấm gương lớn của hai hồ nước; ánh sáng phản chiếu lung linh, nhất là lúc hoàng hôn, gió thổi mát rượi ngay cả lúc trời nóng nực; hai chùa Grand Bouddha[10] và chùa Trấn Bắc[11] ở hai đầu đường đã làm xúc động không chỉ các nghệ sĩ và các nhà khảo cổ, mà cả những người hâm mộ cái đẹp và các di tích lịch sử. Tất cả những người sống ở Hà Nội, người Pháp và người An-nam, đều biết thưởng thức và ngắm cảnh đẹp nên thơ của thành phố của họ. Chúng tôi không muốn có một bằng chứng nào khác ngoài sự tấp nập của dân chúng trên con đường đã trở thành một con đường mà người dân thường xuyên lui tới nhất của Hà Nội.

Thế mà dự án công trình lại gồm: sửa lại con đường chính thành một con đường thẳng; nâng cao chiều nghiêng lên độ 2,50m, không những phá tỷ lệ của không gian hiện tại và làm thay đổi phong cảnh một cách tai hại mà còn làm biến mất chùa Grand Bouddha sau một mô đất gọi là “mô đất phòng thủ”[12], đưa tới một nghịch cảnh là một đống đất kếch xù đắp thẳng và rất cao trên mặt nước. Chỉ cần thông báo một chương trình như thế là sẽ làm xúc động tất cả các Ủy viên HĐTP và toàn thể dân chúng ở Hà Nội”.

Từ việc phân tích sự bất hợp lý về phương diện mỹ thuật của dự án công trình cải tạo đường Trúc Bạch thành một con đê, các tác giả của lá thư này đã lên tiếng kêu gọi trách nhiệm của HĐTP:

Tất cả các Ủy viên của HĐTP đều không thể quên được rằng phong cảnh nên thơ của một thành phố chính là nguồn của cải quý báu, và ngay trong chương trình của Hội đồng cũng có ghi một điều là phải bảo vệ những cảnh đẹp của Hà Nội, chống lại những sự phá hoại luôn luôn xảy ra và không ngừng tái diễn… HĐTP Hà Nội không được phạm vào những sai lầm và những phá hoại vô ích vì những công trình đó là do sức đóng góp của nhiều nhân vật ở Pháp và ở Đông Dương. Chúng tôi vô cùng tiếc và không thể nào quên việc phá thành cổ với những cổng thành tuyệt đẹp tuyệt của nó…”.

Hướng tới những giải pháp cho tương lai về con đường Hồ Tây và việc bảo vệ Hà Nội tránh khỏi sự đe dọa của nạn lụt, lá thư viết:

Người ta nói với chúng tôi: Vậy là các ông thích cho Hà Nội bị lụt? Chúng tôi không chấp nhận kiểu tranh luận như thế. Chúng tôi mong muốn Hà Nội được bảo vệ một cách hữu hiệu, và chúng tôi không muốn rằng vì sự bảo vệ này mà một trong những cảnh đẹp của đô thị quyến rũ nhất của chúng ta bị tàn phá. Vả lại, chúng tôi đã nói rằng việc gia cố đê Yên Phụ phải được đặt lên hàng đầu. Tin rằng có cùng mong muốn như Ngài, chúng tôi xin Ngài hãy can thiệp một cách cấp bách nhất để ngân sách dành cho việc xây con đê Trúc Bạch không được sử dụng vào mục đích của nó mà được sử dụng vào một mục đích khác. Ngân sách này phải được sử dụng vào việc bảo vệ Hà Nội. Điều đó, như chúng tôi đã nói, việc đầu tiên phải làm là củng cố đê Yên Phụ.

Sự việc đến đây tưởng chừng như bị chìm trong quên lãng vì sau lá thư ngày 15-1-1930 của ông Feysan cho đến cuối tháng 2-1930 không có văn bản nào về chủ đề “con đường Hồ Tây” trong hồ sơ này nữa. Tuy nhiên, hướng giải quyết được nhìn thấy rất rõ từ trước đó qua các công văn do chính Thống sứ Bắc Kỳ René Robin ký.

Theo ý kiến chỉ đạo của Thống sứ, dự án “Cải tạo và xây cao con đường ngăn cách giữa hai hồ thành một con đê” đã chính thức bị bãi bỏ. Nó được công bố trong phiên họp thường kỳ của HĐTP hồi 21 giờ ngày 26-5-1930. Tại phiên họp này, Đốc lý Hà Nội là Tholance đã đọc quyết định của HĐTP về việc thay dự án xây đê Trúc Bạch bằng dự án lấp vùng trũng Tứ Châu nhằm mục đích bảo vệ Hà Nội chống lại nạn lụt.

Đã 92 năm trôi qua kể từ khi “Dự án cải tạo và xây cao con đường ngăn cách giữa hai hồ thành một con đê” chính thức bị bãi bỏ vào ngày 26-5-1930, hồ sơ số 78.693 của phông RST vẫn nằm im lặng trong kho lưu trữ. Nhưng bụi thời gian vẫn không thể xóa mờ giá trị của nó, bởi ngày nay, với bài viết này, mỗi khi đi trên “dải ruy-băng” mang tên “Đường Thanh niên” ở giữa hai hồ nước, con đường được trải dài hai hàng cây cổ thụ tuyệt đẹp, người Hà Nội đã biết rằng trong quá khứ từng có một cuộc tranh biện cam go để bảo vệ con đường nổi tiếng này.

: Đường Cổ Ngư xuyên giữa trụ tam quan và cổng chính vào đền Quán Thánh, hồ Tây sát mép đền. Ảnh của André Firmin Salles chụp năm 1896. Ảnh sưu tầm.

Đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên) ven Hồ Tây cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Sưu tập của Dieulefils. Ảnh sưu tầm.

Hồ Trúc Bạch (bên trái) và mạn phía đông của Hồ Tây với đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên) chạy giữa hai hồ được chụp từ trên không. Ảnh của Gouvernement général de l’Indochine. Ảnh sưu tầm.

Carte postal xe kéo tay đi trên đường Cổ Ngư giữa Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch. Ảnh sưu tầm.

 

[1] Fonds de la Résidence supérieure au Tonkin (RST), hs: 78. 693.

[2] Từ dùng trong tài liệu là Hồ Lớn (Grand Lac) để phân biệt với Hồ Nhỏ (Petit Lac) tức Hồ Gươm.

[3] Nay là đường Hoàng Hoa Thám.

[4] Nay là phố Trần Nhật Duật.

[5] Đường Blockhaus Nord được mở từ trước 1888, năm 1945 được đổi tên thành phố Nguyễn Thái Học, từ 1945 đến nay là phố Phó Đức Chính. 

[6] Ernest Hébrard (1875-1933): sinh tại Paris, sau khi mất được chôn tại nghĩa trang Père-Lachaise; là kiến trúc sư, nhà khảo cổ học, nhà quy hoạch người Pháp và là Giám đốc Sở Quy hoạch kiến trúc Đông Dương. Ông là tác giả của một số công trình kiến trúc tiêu biểu ở Việt Nam như Trường Đại học Y Hà Nội (nay là Trụ sở của Đại học Y-Dược và Đại học Quốc gia Hà Nội), Bộ Tài chính Đông Dương (nay là Bộ Ngoại giao), Trường Viễn đông Bác cổ Pháp (nay là bảo tàng Lịch sử Quốc gia)… 

[7] Tức đường Trúc Bạch (TG).

[8] Nay là phố Thụy Khuê.

[9] Trường Bưởi, nay là trường THPT Chu Văn An hay còn gọi là

[10] Đền Quán Thánh

[11] Chùa Trấn Quốc.

[12] Từ dùng trong tài liệu: masque de protection.

TS. Đào Thị Diến