10:37 PM 07/04/2026  | 

Ông đã từng nói một câu như thể đã nhìn thấy ngã rẽ của đời mình: “Mình đã dư biết có ngày hôm nay rồi ”. Ông bị bắt vào chính thời điểm Hà Nội vừa chấn động bởi vụ đầu độc lính Pháp, còn trên vùng Yên Thế, tiếng súng của quân Đề Thám lại nổ liên hồi giữa núi rừng Bắc Giang. Đó là thời khắc mà chính quyền thực dân siết chặt việc bắt bớ, truy lùng những người bị coi là mối nguy cho bộ máy cai trị. Và trong vòng xoáy ấy, Nguyễn Quyền bị cuốn vào một hành trình không còn đường lui, từ người trí thức đất Bắc trở thành kẻ bị kết án “khổ sai chung thân”, rồi sống những năm dài an trí ở vùng đất Nam Kỳ xa lạ.

Tháng 7/1908, Nguyễn Quyền bị còng tay dẫn giải về Hà Nội với cáo buộc làm phản nhà nước. Từ Phú Thọ, ông bị giải về Khám Lớn Hỏa Lò, giam ít ngày rồi tiếp tục bị chuyển sang khám Hà Đông. Cùng thời điểm ấy, nhiều đồng chí của ông như Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Võ Hoành, Lê Đại…[1] cũng lần lượt rơi vào vòng lao lí của chính quyền thuộc địa. Một đợt bắt bớ lớn diễn ra, không chỉ để trừng phạt, mà còn nhằm dập tắt cả một ý chí phản kháng đang âm ỉ lan rộng trong giới sĩ phu và những người yêu nước đầu thế kỷ XX.

Danh sách người bản xứ bị Toà Đề hình kết án năm 1908, trong đó có Nguyễn Quyền. Nguồn: TTLTQGI

Theo hồ sơ lưu trữ, ngày 15/10/1908, Nguyễn Quyền bị Tòa Đề hình kết án lao động khổ sai chung thân. Phần truy tố dựa theo Điều 23 của Luật ngày 29/7/1881 về báo chí, trong đó quy kết ông đã kích động bằng diễn thuyết, hô hào, lời đe dọa hoặc qua các ấn phẩm, dẫn tới những hành vi bị nhà cầm quyền xem là đặc biệt nghiêm trọng: mưu toan đầu độc, xúi giục binh lính theo phe phiến loạn có vũ trang...

Ngay cả khi tìm cách kháng nghị, cánh cửa vẫn khép chặt. Chỉ hai ngày sau, Nghị định ngày 17/10/1908 của Toàn quyền Đông Dương đã bác bỏ đơn kháng cáo chống lại bản án ngày 15/10/1908. Mọi hy vọng lật lại bản án gần như bị chặn đứng. Đến ngày 11/12/1908, Nghị định số 458 của Thống sứ Bắc Kỳ chính thức bãi chức Nguyễn Quyền, thu hồi bằng bổ dụng và gửi về Phủ Thống sứ để hủy bỏ. Kể từ đây, cuộc đời ông chính thức rời khỏi đất Bắc, bước vào cuộc phiêu bạt dài vô vọng ở phương Nam.

Hai năm sau, vào năm 1910, một nghị định mới ghi rõ việc “giảm hình phạt” cho Nguyễn Quyền, nhưng đồng thời buộc ông phải cư trú tại Nam Kỳ, tại địa điểm sẽ do chính quyền ấn định. Trên giấy tờ, đó là một sự ân xá. Nhưng trong thực tế, đó là một hình thức quản thúc vô thời hạn, biến người bị kết án thành một cái bóng phải sống trong không gian bị kiểm soát nghiêm ngặt. Nguyễn Quyền từng kể lại sự hụt hẫng của mình khi ấy: ông tưởng mình sẽ được trở về quê hương, được gặp lại bà lão mẫu nơi đất Bắc, nào ngờ người ta đưa thẳng ông về Sài Gòn rồi giải xuống Bến Tre. Tại đây, viên chủ tỉnh nói với ông một câu vừa như an ủi, vừa như lời ấn định số phận: “Ông nên ở yên lại đây, nhà nước xin cấp dưỡng tử tế, đừng về Bắc Hà để cho nhà nước dễ bề cai trị một chút”[2].

 Nghị định ngày 10/11/1910 của Toàn quyền Đông Dương về việc giảm án cho Nguyễn Quyền và Vũ Hoành đồng thời buộc họ phải cư trú tại một địa phương ở Nam Kỳ. Nguồn: TTLTQGI

Không cam chịu hoàn toàn, Nguyễn Quyền nhiều lần xin trở về Bắc Kỳ sinh sống, cũng có lần xin được lên Sài Gòn. Nhưng những cánh cửa ấy đều lần lượt đóng lại. Xem xét hai đơn thỉnh cầu của Nguyễn Quyền, một xin cư trú tại Sài Gòn, một xin trở về Bắc Kỳ, cơ quan an ninh thuộc địa đã tiến hành tổng hợp và liệt kê tỉ mỉ mọi thông tin liên quan đến ông trong những năm bị an trí tại Nam Kỳ. Ông được cho là “đại diện của Cường Để tại Nam Kỳ”, giữ vai trò nổi bật trong vụ Trần Chánh năm 1913. Hồ sơ nêu rõ chính ông đã thú nhận mình là người viết tài liệu quan trọng nhất mà giới điều tra phát hiện được, đó là một kế hoạch tấn công Đông Dương. Chưa dừng lại ở đó, đến tháng 7/1923, ông tiếp tục bị buộc tội vì những hành vi gây phương hại đến an ninh công cộng và gây xáo trộn chính trị nghiêm trọng[3].

Những nhận định trên khiến mọi mong mỏi trở về quê hương của Nguyễn Quyền đều bị bóp nghẹt. Trong Báo cáo số 781 ngày 18/9/1926 gửi Toàn quyền Đông Dương, Thống đốc Nam Kỳ Le Fol kết luận rằng sự hiện diện của Nguyễn Quyền tại Bắc Kỳ có lẽ là điều không mong muốn. Mặt khác, cách thức hành động của người này, theo đánh giá của chính quyền, đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ, mà nếu cho cư trú tại Sài Gòn thì việc kiểm soát ấy sẽ trở nên khó khăn hơn. Vì thế, ông ta bày tỏ rõ ý kiến không đồng tình với cả hai đơn thỉnh cầu của Nguyễn Quyền: không cho về Bắc Kỳ, cũng không cho lên Sài Gòn.

 

 Báo cáo số 781 ngày 18/9/1926 của Thống đốc Nam Kỳ Le Fol gửi Toàn quyền Đông Dương. Nguồn: TTLTQGI

Ít lâu sau, trong thư trả lời Thống sứ Bắc Kỳ ngày 09/10/1926, Chánh Sở Mật thám Bắc Kỳ cũng lặp lại gần như đầy đủ thông tin chính trị về Nguyễn Quyền: tham gia vụ Hà Thành đầu độc, theo Hoàng thân Cường Để, có vai trò trong vụ Trần Chánh ở Nam Kỳ, liên quan các vụ nổi dậy chính trị năm 1923… Từ đó, cơ quan mật thám đi đến kết luận không đồng ý cho ông trở về Bắc Kỳ. Kết quả là người tù năm ấy, dù đã qua bao năm an trí, vẫn bị đóng khung trong cùng một định danh là “phần tử nguy hiểm”.

 Thư của Chánh Sở Mật thám Bắc Kỳ trả lời Thống sứ Bắc Kỳ ngày 09/10/1926. Nguồn: TTLTQGI

“Không mong muốn làm quan”, nhưng rồi điều quyết định cuộc đời Nguyễn Quyền không còn là ước muốn hay sự từ chối của riêng ông nữa. Cuộc đời ông bị chi phối và định đoạt bởi cách chính quyền thuộc địa nhận định: nguy hiểm, phải giám sát, không được trở về. Khi ông muốn hồi hương, Sở Mật thám Bắc Kỳ nói không. Khi ông muốn lên Sài Gòn, Thống đốc cũng nói không. Từ một Tú tài nho học, từng giữ chức Huấn đạo trong hệ thống thuộc địa, cuối cùng bị đẩy vào kiếp lưu đày giữa miền xa xứ, sống hết những năm tháng cuối đời trong sự canh chừng nghiêm mật của bộ máy cai trị.

Nhìn lại hành trình ấy, có thể thấy án “khổ sai chung thân” là điểm mở đầu cho một cuộc đời bị tước đoạt quyền lựa chọn. Từ Hỏa Lò, đến khám Hà Đông, rồi đi Côn Lôn cho đến Bến Tre, Trà Vinh, Rạch Giá, An Hội, bước chân Nguyễn Quyền đi đâu cũng in dấu một thân phận bị quản thúc. Và đằng sau những bản án, nghị định, báo cáo và thư từ hành chính là bóng dáng một con người bị buộc phải sống tha hương đến tận cuối đời.

 

[1] ĐÀO TRINH NHẤT, Đông Kinh Nghĩa Thục, Nhà in Mai Lĩnh, 1937

[2] ĐÀO TRINH NHẤT, Đông Kinh Nghĩa Thục, Nhà in Mai Lĩnh, 1937

[3] RST 56073

Đỗ Hoàng Anh