11:01 PM 08/06/2022  | 

Khái niệm “Đông du” có vẻ quen thuộc với giới sử học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX hơn là “du học”. Ở đây, chúng tôi mạnh dạn đặt khái niệm “du học” trong bối cảnh triều Nguyễn trước đó một thế kỷ, điều này có thể khiến nhiều người hoài nghi liệu đâu là nơi người Việt Nam muốn đến học tập trong nửa đầu thế kỷ XIX? Lật lại những ghi chép của Đại Nam thực lục 大南寔錄 kết hợp với những tư liệu từ Lưu trữ của người Anh (British Archives) ở Singapore, chúng tôi thấy được cách Minh Mệnh bước đầu đưa người Việt “bước ra thế giới” như thế nào.

Trước khi triều Nguyễn được thành lập, hệ tư tưởng lấy Trung Quốc làm trung tâm (Sino-centric ideology) trở thành hệ quy chiếu chủ đạo cho những diễn trình lịch sử phong kiến ở Việt Nam.[1] Vì thế, giới tinh hoa và sĩ phu Việt Nam thường lấy những giá trị Trung Hoa làm nấc thang đo đếm các chuẩn mực xã hội. Do sự tương đồng về ngôn ngữ giữa Việt Nam và Trung Quốc, cũng như “tính ì”, “khép kín” rất đặc trưng của giới sĩ phu Việt nên nhiều tri thức của thế giới được hấp thụ gián tiếp qua lăng kính Trung Hoa. Điều này dường như có sự khác biệt ở một mức độ nào đó vào thế kỷ XIX. Trong quá trình khảo cứu lịch sử hải thương Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, chúng tôi phát hiện ra rằng vào thời kỳ này, triều Nguyễn đã cử người Việt sang các khu định cư eo biển (Straits Settlements) của phương Tây ở Đông Nam Á để học tập. Đây là một mốc quan trọng, đánh dấu một xu hướng li tâm ra khỏi hệ quy chiếu Trung Hoa, tác động đến nhiều mặt của lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX.[2] Có hai lĩnh vực nhà Nguyễn cử người đi học, đó là ngoại ngữ và máy móc.

Trước tiên đối với vấn đề học ngoại ngữ, việc thành lập Tứ dịch quán (四譯館) đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa ý định của Minh Mệnh cử người Việt đi nước ngoài học ngoại ngữ hồi nửa đầu thế kỷ XIX. Nhiều người thuộc cơ quan này đã được cử đến Singapore và các khu định cư phương Tây khác để học tiếng Anh và các ngôn ngữ nước ngoài. Trong suy nghĩ của Minh Mệnh “Trừ những tiếng nói chim muông, còn lại nên biết cả [tiếng nói và chữ viết các nước], để trở thành một nước đại văn minh. Có như thế thì việc đối ngoại không lầm lỡ mà quốc thể tự được tôn trọng[3]. Năm 1835, Minh Mệnh chuẩn định việc chọn lựa người được nhà nước hậu cấp cho lương ăn để học tập ngôn ngữ văn tự các nước ngoài.[4] Cùng năm đó, Nguyễn Văn Mẫn (阮文敏), Trần Đại Trung (陳大忠) và Nguyễn Hữu Quang (阮有光) được cử sang Hạ Châu học ngoại ngữ. Trong bối cảnh nửa đầu thế kỷ XIX khi mà khác biệt ngôn ngữ là một trong những trở ngại tiên quyết cho quá trình Việt Nam học tập tri thức của các nước khác trên thế giới, việc Minh Mệnh cử người đi học ngôn ngữ không chỉ nhằm mục đích thông dịch phục vụ các vấn đề đối ngoại của triều Nguyễn, mà đó là một phương tiện để giới trí thức và tinh hoa Việt Nam có thể trực tiếp hấp thụ tri thức và nền giáo dục Tây học, không phải thông qua các sách báo Trung Hoa như trước đây.

Trang số 2 của báo “Singapore Free Press and Mercantile Advertiser” (S.F.P.M.A.) ra ngày 27/12/1838

Về số lượng những người Việt được cử sang học ở Singapore Institution dưới thời Minh Mệnh và Thiệu Trị, chúng tôi chưa có số liệu cụ thể do hạn chế về tư liệu. Nhưng chúng tôi biết được có ít nhất 8 người được cử đi học vào những năm 1835 và 1838 và 1845. Việc khảo cứu thêm tư liệu Châu bản chắc hẳn sẽ giúp chúng tôi có câu trả lời bao quát hơn về tình hình du học ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX. Điều đáng kể là, trong số những người Việt Nam du học ở Singapore, có những người đứng đầu về thành tích trong số các học viên từ Singapore và quốc tế tham gia lớp học và được nhận giải thưởng ở đây. Cụ thể là, theo kết quả của kỳ thi ngày 21/12/1838 ở trường Tiếng Anh (English School), có 2 học viên là người Việt nhận được giải thưởng trong tổng số 4 học viên của lớp nhận được giải, trong đó có một người nằm trong số 4 học viên có thành tích tốt nhất của Khóa trong suốt 6 tháng trước đó.[5] Bộ phận du học này đã trở thành thông dịch viên trên các quan thuyền hàng năm ghé thăm Singapore buôn bán. Họ cũng là những người làm công tác thông ngôn, giúp đỡ các tàu của Anh bị đắm và dạt vào bờ biển Việt Nam trú ngụ. Theo ghi nhận từ các khu định cư của người Anh thì “một số thông dịch viên trên tàu của Vua là những người đàn ông trẻ tuổi từng được hướng dẫn và giảng dạy tiếng Anh tại Singapore Institution, hiện nay có ba người đang theo học”.[6]

Một trang của Đại Nam thực lục chính biên II, tập 187

Từ việc đào tạo ngôn ngữ, dưới thời Minh Mệnh, một bộ phận nhỏ thuộc tầng lớp tinh hoa còn được cử đi học về máy móc. Trong Đại Nam thực lục, chỉ ghi lại một trường hợp duy nhất là Lê Nguyên (黎 元) được cử sang Batavia học máy móc năm 1837.[7] Tuy nhiên, có hai lý do khiến chúng tôi suy đoán là có nhiều hơn một người Việt được cử sang các khu định cư phương Tây học tập về mảng này. Thứ nhất, Minh Mệnh là một người tỏ ra rất coi trọng kỹ thuật của phương Tây. Trong mắt vị vua này, người Anh được coi là bậc thầy về thủy quân, tri thức khoa học, ông dùng thuật ngữ “bậc đại trí” (大 智者) để chỉ họ.[8] Theo Minh Mệnh “trẫm thường hỏi phái viên đi công cán ở ngoại quốc về, đều nói trong các nước phương Tây, duy có nước Hồng Mao [nước Anh] và Malicôn [Malacca] là giỏi về thuỷ chiến, khi lái thuyền đi, hoặc phải ngược gió, hoặc được xuôi gió, không khi nào là không nhanh chóng, tuỳ cơ ứng biến, lanh lợi vô cùng, thực nên bắt chước. […] riêng đánh trận ở dưới nước, chưa có sách làm ra cho người học tập, trẫm cũng biết qua một vài phương pháp phương Tây, muốn các ngươi suy tính kỹ càng, làm thành quyển thành pho, cho binh lính ngày đêm học tập[9]. Lý do thứ hai liên quan đến việc vào năm 1839, Việt Nam đã chế tạo thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, và đến năm 1844-1845, người Việt Nam được báo chí của người Anh ở Singapore đánh giá là một trong những người châu Á đầu tiên sở hữu và biết vận hành tàu máy hơi nước sau khi nó được nhập về từ Singapore.[10] Việc duy trì thuyền trưởng là người phương Tây, còn lại đều là các thủy thủ Việt đã chứng tỏ các thủy thủ Việt Nam rất thông thạo việc vận hành tàu máy hơi nước, và việc có thể chế tạo thành công được tàu hơi nước đã gợi ý rằng việc học tập chế tạo máy móc phương Tây hẳn đã phát triển ở Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XIX. Bản thân Lê Nguyên (黎 元) sau khi trở về từ Batavia đã học được cách chế tạo một loại máy phương Tây dùng trong nông nghiệp năm 1838.[11]

Có thể thấy rằng, du học Tây phương là một hiện tượng không phổ biến nhưng rất quan trọng vào nửa đầu thế kỷ XIX ở Việt Nam mà các học giả trước đây đều ít quan tâm đến. Đặt trong bối cảnh nửa đầu thế kỷ XIX khi sự mở rộng của chủ nghĩa thực dân phương Tây khiến cho nhiều nhà nước và tầng lớp sĩ phu, tinh hoa ở Đông Nam Á lo ngại, việc Minh Mệnh cử người sang các khu định cư của người phương Tây ở Đông Nam Á học tập ngôn ngữ và máy móc đã chứng tỏ ông là một người có cái nhìn tân tiến, thức thời, rất coi trọng việc giao thiệp buôn bán và học tập kỹ thuật của phương Tây. Đến khi Thiệu Trị kế vị, ông vẫn tiếp tục chính sách trước đó của cha mình là Minh Mệnh, cử người sang Singapore học tập. Nhờ đó, dưới thời Minh Mệnh và Thiệu trị, quan thương (官商) giữa triều Nguyễn và Singapore đặc biệt phát triển, nhất là từ năm 1839 trở đi.[12] Có một vấn đề chúng tôi vẫn băn khoăn, đó là: liệu những người được đi du học này sau khi trở về có đóng góp làn gió mới vào phong trào Tây học ở Việt Nam trong thế kỷ XIX hay không? Điều này chắc hẳn sẽ cần các nhà nghiên cứu đi sâu vào phân tích trong tương lai.

 

[1] Mặc dù vậy, lịch sử vẫn luôn tồn tại xu hướng li tâm (centrifugal tendency) ở mỗi triều đại. Xem: Thi My Hanh Nguyen, “Vietnam’s Chinese-style ‘tributary system’ in South East Asia in the nineteenth century”, South East Asia Research, 29:4, 504-519, DOI: 10.1080/0967828X.2021.2014283; Nguyen Thi My Hanh, “Vietnam-China Trade Relations in the Feudal Period: From the Early 10th to the Late 19th Century”, Journal of Mekong Societies, 11(3), 2015, doi: 10.14456/jms.2015.20.

[2] Cao Thi Van, “The History of Nguyễn Vietnam-Singapore Trade, 1820-1847”, Ph.D. thesis, Nanyang Technological University, Singapore, 2021.

[3] Chính biên II, vol. 136, 23a.

[4] Chính biên II, vol. 156, 39b-40a.

[5] Singapore Free Press and Mercantile Advertiser (S.F.P.M.A.), 27 Dec 1838.

[6] Tabular Statement of the Commerce and Shipping of Singapore for the official year 1844-45. Calcutta: W. Ridsdale, Military Orphan Press, 1847, tr.117.

[7] Chính biên II, vol. 187, 3a.

[8] Chính biên II, vol. 192, 8a.

[9] Chính biên II, vol. 192, 6a.

[10] S.F.P.M.A., 23 Oct 1845; Chính biên II, vol. 214, 18a-b; Mantienne, Frédéric. “The Transfer of Western Military Technology to Vietnam in the Late Eighteenth and Early Nineteenth Centuries: The Case of the Nguyễn.” Journal of Southeast Asian Studies 34(3), Cambridge University Press, 2003, tr. 533-34; Hedde, M. Isidore. “Notices on Cochinchina made during a visit in the spring of 1844.” Chinese Repository, vol. XV: From January to December 1846. Canton: Printed for the Proprietors, 1846, 119.

[11] Chính biên II, vol. 193, 12a.

[12] Wong, Lin Ken. The Trade of Singapore, 1819-1869. Singapore: Journal of Malayan Branch of the Royal Asiatic Society, 1961; Li Tana, “Ngoại thương của Việt Nam thế kỷ XIX: Quan hệ với Singapore”. Kỷ Yếu Hội Thảo Quốc tế Việt Nam Học Lần Thứ Nhất-Hà Nội, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2000, tr. 141-150; Cao Thi Van, “The History of Nguyễn Vietnam-Singapore Trade, 1820-1847”, Ph.D. thesis, Nanyang Technological University, Singapore, 2021.

TS. Cao Thị Vân - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2