11:18 AM 09/02/2024  | 

Các Hoàng đế triều Nguyễn, trừ Hoàng đế Gia Long chủ yếu sống trong hào quang võ công, ít bàn luận về thơ, đến Hoàng đế Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, thơ có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống. Vậy theo quan niệm “thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo”, chúng ta có thể hiểu thêm điều gì về những vị Hoàng đế này ?

Năm Minh Mạng thứ 8 (1827), vì lo chưa dẹp yên thổ phỉ (Phan Bá Vành), Hoàng đế nửa đêm không ngủ, làm bài thơ “Xuân dạ ngôn hoài” để tỏ ý mình. Đêm ấy canh tư được tin thắng trận, Hoàng đế mừng quá, buổi chầu sáng sớm đem thơ cho bầy tôi xem, bảo rằng: “Trẫm vì cớ kẻ dân mọn ngu ngoan, giữa đêm nóng ruột, phát ra thơ này, chưa được vài khắc mà tin thắng trận vừa đến. Mới biết các cơ trời với người thông cảm như thế đấy!”.

Hoàng đế Minh Mạng cũng từng dụ rằng: Thơ trẫm làm không cần khéo léo, chỉ luôn miệng ngâm ra để nói chí mình thôi. Những bài ban cho ấy đều nói về việc kính trời lo dân, mong tạnh cầu mưa, để các khanh biết ý trẫm, không phải vụ lời văn hoa mà đua hay với văn sĩ đâu. Nếu ngẫm nghĩ những bài thơ ấy mà biết trẫm khó nhọc, thì nên cảm động mà thi thố mưu mô để giúp trẫm những việc không nghĩ đến, cho chính sự tốt đẹp, trong ngoài yên vui, thế là trẫm cho thơ mới không phải là vô ích, thì trẫm vui mừng biết là nhường nào. Nếu chỉ trang sức hư văn thì sợ văn võ trên dưới sẽ chơi đùa trễ nải, trẫm chẳng khen đâu.[1]

Thời tiết thất thường ảnh hưởng đến đời sống nông nghiệp là một trong những nỗi niềm trăn trở thường xuyên của người đứng đầu đất nước lúc bấy giờ. Tự cho rằng bản thân sửa lỗi chưa đạt là nguyên nhân dẫn đến mưa to gió lớn, Hoàng đế Thiệu Trị đã gửi gắm tâm tư vào những vần thơ rồi ban cấp cho các công thần đều biết.[2] Có khi Hoàng đế đích thân làm thơ cầu mưa, phái quan Bộ Lễ và Nội các đem đi các miếu đọc. Điều này được ghi lại trong bản Tấu của Bộ Lễ dưới triều Tự Đức. Văn bản cũng cho biết đêm hôm cầu đảo được mưa to. Những người mang thơ ngự chế tuyên đọc được thưởng mỗi người một đồng tiền vàng.[3]

Có khi bài thơ cũng là một phần thưởng để khích lệ tướng sĩ. Bản tấu của Nội các năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) đề cập đến bài thơ của Hoàng đế ghi việc xa giá đến cung Bảo Định ban yến tiệc cho tướng sĩ. Nội dung bài thơ nói rằng úy lạo tướng sĩ đa phần đều khiêm nhường mà không kiêu căng.[4]

Hoàng đế Tự Đức cũng từng ban thưởng thơ cho Nguyễn Tri Phương. Văn bản của Nội các năm Tự Đức 12 (1859) viết: Chúng thần ở Nội các phụng Thượng dụ, từ ngày vùng biển có chiến sự đến nay, các tướng sĩ vâng mệnh ra chiến trường, phải chịu giá lạnh nóng bức quanh năm. Trẫm nhìn về phương Nam không bữa nào quên. Nghĩ nhiều về ngươi, Tổng thống Nguyễn Tri Phương lòng son báo nước, một mực trung thành. Gần đây trong Kinh mưa gió mấy ngày liền. Trẫm ở trong cung còn thấy lạnh, huống hồ nơi sa trường sương gió, sao chịu nổi, lòng lại nhớ mong, bất giác nghĩa tình phát ra, bèn làm một bài thơ thất ngôn, nhân đó cởi chiếc áo chống lạnh đang dùng gửi cùng bài thơ để Tứ đẳng thị vệ Phạm Quý mang ban cho Tổng thống. Ngoài ra từ tham tá trở xuống đợi sẽ tiếp tục ban cấp sau.[5]

Bài thơ ngự chế “Khốc cử nhân tặng Tri phủ Phan Văn Đạt” nói lên lòng thương tiếc của vua trước cái chết của người chí sĩ vùng đất Nam Bộ. Châu bản triều Nguyễn cho biết, bài thơ được Hoàng đế Tự Đức cho sao chép ra phổ biến trong nước để khuyến khích lòng người.[6]

Bên cạnh những văn bản cho biết nỗi niềm trăn trở của Hoàng đế Tự Đức về sự an nguy của đất nước, có văn bản cho thấy tâm tư của Hoàng đế còn được gửi gắm qua những vần thơ. Ngày 10 tháng 8 năm Tự Đức 12 (1859), đình thần tâu, nay ngự chế một bài thơ về việc đánh giặc. Chúng thần cung kính duyệt. Ngẩng trông hoàng thượng rất chú ý đến việc binh, ngày đêm vất vả, chưa từng bao giờ thiếu sự sắp đặt. Nhưng chúng thần tài trí hèn mọn. Từ mùa thu năm ngoái khi vùng biển hữu sự đến nay đã nhiều lần được hỏi đến, chúng thần có ngu kiến cũng không dám che giấu. Dám xin mạo muội phúc lên đầy đủ.[7] Bản Tấu của đình thần ban Văn cho biết thêm về việc bài thơ ngự chế Trách kỷ của Hoàng đế Tự Đức, thể ngũ ngôn cổ phong, được giao cho cho các quan kính duyệt. Các quan đọc bài thơ thấy “hoàng thượng lòng lo phiền, không điều gì là không nghĩ tới” và tự nhận “Chúng thần ngu muội vô trạng, đã không làm vơi được nỗi ưu phiền, thật có tội không làm tròn chức phận”.[8]

 

[1] Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục.

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức.

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức.

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức.

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức.

[8] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức.

Hồng Nhung