Thời cổ đại, khi các phương tiện cơ giới còn chưa xuất hiện hoặc chưa phát triển thì ngựa là phương tiện đặc biệt quan trọng giúp con người trong hoạt động vận tải, vì vậy “sức ngựa” trở thành một đơn vị đo lường công suất chủ yếu, gọi là “mã lực”.
Trong chiến tranh, ngựa là lực lượng chính, được biên chế như quân đội, thành các đội “kị binh”, “kị mã” góp phần làm nên thắng lợi trong các cuộc chiến đấu. Ngựa cũng là lực lượng quan trọng trong việc liên lạc, chuyển phát thông tin, vận tải bưu chính, kết nối các dịch trạm.
Ngựa không chỉ có giá trị cao về vật chất, mà còn có giá trị biểu trưng về tinh thần, vì vậy thời cổ đại, ngựa được dùng làm cống phẩm để tặng biếu giữa các quốc gia để tăng tình hữu hảo. Trong “cửu tích”[1] tức 9 loại vật phẩm vua ban cho quần thần thì ngựa và xe là vật phẩm quý đứng đầu danh sách.
Trong văn hóa, ngựa là hình tượng đẹp được sử dụng trong các sản phẩm trang trí như tranh, tượng, phù điêu… giàu tính nghệ thuật. Trong tín ngưỡng tôn giáo, ngựa mang triết lý âm dương, được thờ cúng trong các đình, đền, chùa, miếu tượng trưng cho sự thuần khiết, sức mạnh và là linh vật hỗ trợ các vị thần. Ngựa thờ, thường là một cặp Trắng-Đỏ tượng trưng cho Âm và Dương (ngựa trắng là âm, ngựa đỏ là dương).
Tại Trung Hoa, hình tượng ngựa rất nổi tiếng với thành ngữ “mã đáo thành công” (馬到成功) hàm ý chỉ sự thắng lợi. Nguồn gốc của thành ngữ này bắt nguồn từ một vở kịch khuyết danh thời nhà Nguyên có tên là Tiểu úy trì (小尉遲)kể về những người lính cưỡi ngựa ra chiến trường, khi ngựa trở về là đã giành được chiến thắng. Từ đó, hình ảnh con ngựa trở thành biểu tượng của sự thành công[2].
Tại Mông Cổ, ngựa Akhal-Teke (Hãn huyết mã) là giống ngựa quý của vùng Trung Á, được Hoàng đế Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn sử dụng để chinh chiến khắp các chiến trường và thảo nguyên. Loại ngựa này có đặc điểm tiết mồ hôi màu đỏ như máu, nổi tiếng với tốc độ và sức bền cao. Vì vậy ngựa hãn huyết là biểu tượng của sức mạnh quân sự và văn hóa du mục của người phương Bắc.
Trong văn hóa Việt Nam, hình tượng ngựa xuất hiện trong tín ngưỡng thờ Mẫu (đạo Mẫu Việt Nam). Ngựa được xem là linh vật kết nối trời - đất và con người, mang năng lượng vận hành vũ trụ (ngũ hành). Trong các phủ, điện thờ Tứ Phủ, thường có cặp ngựa gỗ sơn son thếp vàng, đóng yên cương, với ý nghĩa cân bằng âm-dương và sự hộ giá. Bạch Mã (ngựa trắng) tượng trưng cho sự thuần khiết, bay bổng, thuộc về cõi trời; Xích Thố (ngựa đỏ) tượng trưng cho sức mạnh, dương khí và các vị thánh, thần.
Hình ảnh con ngựa cũng xuất hiện trong các truyền thuyết lịch sử như ngựa sắt giúp Thánh Gióng đánh tan giặc Ân, sau đó cả người lẫn ngựa bay về trời, trở thành một trong bốn vị thánh mà người Việt gọi là “Tứ bất tử” trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Tượng đài Thánh Gióng trên đỉnh núi Sóc tại Sóc Sơn, Hà Nội
Nguồn: Sưu tầm
Trong “Thăng Long tứ trấn” chỉ bốn ngôi đền thiêng thờ bốn vị thần trấn giữ bốn vị trí huyết mạch phía đông, tây, nam, bắc của kinh thành Thăng Long xưa gồm: Đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Kim Liên, đền Quán Thánh. Trong đó đền Bạch Mã là truyền thuyết về con ngựa trắng đã giúp vua Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long. Theo “Thăng Long cổ tích” khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra thành Thăng Long (năm 1010), vua cho đắp thành, nhưng thành xây đến đâu sụt lở đến đó, bèn cử người tới đền thiêng cầu thần. Một đêm vua nằm mộng thấy có thần Ngựa trắng nói rằng “Mạch đất Long Biên rất thiêng, nay vua cho đắp thành, khiến mạch bị tắc, vậy nên cho đào một cái cừ thông sang sông Thiên Phù và Tô Lịch để mạch được lưu thông, mới xây được thành”. Tỉnh giấc, vua bèn theo lời ngựa trắng, đắp thành theo vết chân ngựa, thành không lở nữa. Thành xây xong, vua Lý Thái Tổ sai tạc một con ngựa trắng để thờ và ban sắc phong cho thần làm Quốc đô Định bang Thành hoàng đại vương, tức Thành hoàng hộ trì cho đất Thăng Long. Từ đấy ngựa trắng là một biểu tượng thiêng liêng, ngôi đền thờ thần được gọi tên là đền Bạch Mã.
Dưới triều Nguyễn, thời vua Minh Mệnh, khi định quy trình cho Tập thiện đường (chỗ giảng học cho các Hoàng tử), việc học “cưỡi ngựa bắn cung” là một trong 11 điều bắt buộc. Nhà vua cũng thường xuyên ngự trước điện Càn Nguyên để xem vệ Phi kỵ luyện tập ngựa. Vua truyền rằng: Luyện phép đánh bằng ngựa khác với phép đánh bộ. Lấy phép đánh bộ mà dạy cho kỵ sĩ thì sao có thể mạnh khoẻ vừa ý được. Vì vậy phải soạn phép thao diễn mã trận để Trẫm xét định. Vua cũng định tiêu chuẩn cho đội “binh mã” cùng các hạng “ngự mã” như ngựa bách thỏ, ngựa lương tuân, ngựa phúc lưu, ngựa cát lưu, mỗi tháng mỗi con cấp cho gạo, đậu mỗi thứ 1 phương. Thậm chí vua còn ra lệnh cho Bắc Thành chọn mua ngựa tốt của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) để dùng cho kị binh triều đình.
Ngoài việc sử dụng ngựa cho quân đội, hộ giá nhà vua, vận tải, chuyển phát giữa các dịch trạm, ngựa còn xuất hiện nhiều dưới dạng tượng đá trong các cung điện, lăng tẩm của vua chúa nhà Nguyễn. Minh Mệnh năm thứ 12 [1831] vua sai Bộ Công vẽ mẫu tượng đá quan văn, quan võ, lính thị vệ, voi đá, ngựa đá giao cho Quảng Nam, Thanh Hoa chế tạo. Trong đó tượng quan văn, quan võ mỗi thứ 1 đôi, 6 tượng thị vệ, đều cao 3 thước 6 tấc; voi đá 2 con, mỗi con cao 4 thước 1 tấc; ngựa đá 2 con, mỗi con cao 2 thước 7 tấc; chế tạo xong, đưa về Kinh bày ở lăng Thiên Thọ (tức lăng vua Gia Long).
Ngựa cũng là một trong 9 loại thú bốn chân quý xuất hiện trên Cửu đỉnh tại kinh thành Huế. Năm 1835, vua Minh Mệnh bắt đầu cho đúc cửu đỉnh, năm sau (1836) chín đỉnh đồng được đúc xong, vua bảo Nội các rằng: Nay đúc đỉnh, khắc các hình tượng sông, núi và mọi vật cũng không cần phải khắc đủ cả, duy phải khắc rõ tên, hiệu và xứ sở để tiện nhận xét. Đó là cái ý người xưa vẽ hình mọi vật. Vì vậy những họa tiết khắc trên cửu đỉnh đều là những cảnh vật được chọn lọc tinh túy nhất, đại diện cho mọi miền đất nước, tạo nên bức tranh thiên nhiên sống động về cuộc sống con người Việt Nam dưới thời nhà Nguyễn./.
Hình tượng ngựa trên Cửu đỉnh Huế
[1] Theo “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” “cửu tích” gồm có: (1) Xe, ngựa; (2) Áo mặc; (3) Nhạc khí; (4) Cửa son; (5) Nạp bệ (tức bậc thềm nhà được xây cao hơn); (6) Hổ bôn (dũng sĩ hộ vệ); (7) Cung, tên; (8) Phủ, việt (dụng cụ nghi lễ hình búa và rìu); (9) Cự sưởng (một thứ rượu ngon dùng để cúng tế).
[2] Từ điển Từ nguyên, Thương vụ ấn thư quán xuất bản, Bắc Kinh (1979), trang 1877.
Nguyễn Thu Hoài