03:30 PM 29/09/2026  | 

Nhận thức được vai trò quan trọng của ngôn ngữ trong việc giao tiếp với các nước lân bang, các vị vua triều Nguyễn đề ra những chủ trương, chính sách về dạy và học tiếng nước ngoài nhằm xây dựng đội ngũ quan lại biết ngoại ngữ, phục vụ công tác đối ngoại của triều đình.

Lộ trình học tập bài bản

Không chỉ hiểu được tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ, các vua triều Nguyễn còn hiểu được độ khó của việc học tiếng nước ngoài. Để học tốt ngoại ngữ, việc luyện tập từ vựng hàng ngày để nâng cao vốn từ là điều cần thiết. Bởi vậy, vua Tự Đức đã “đề ra” lộ trình học tập cụ thể cho từng ngoại ngữ. Với tiếng Pháp “mỗi ngày học 3 câu dài hoặc 4 câu ngắn.”[1], với tiếng Anh thì “mỗi ngày học 10 chữ”[2]. Ngoài việc nâng cao vốn từ, còn cần rèn luyện kĩ năng đọc “tổng hợp từ vựng đến tháng 6 và tháng 12 thì trích một vài câu trong quyển sách học thường ngày để luyện đọc”[3].

Nhằm tổ chức hiệu quả việc dạy và học ngoại ngữ, triều đình cho phép mở các trường từ Kinh đô đến địa phương nhưng phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt về số lượng, chất lượng và thời gian đào tạo. Theo đó, các trường tại Kinh phải thường xuyên đủ 30 người học tiếng Pháp và 20 người học tiếng Xiêm. Trường tại các tỉnh phải thường xuyên có 15 người học tiếng Pháp. Thời gian đào tạo từ 3 đến 5 năm phải nói và hiểu thông thạo “Những người đã học, quy định thời hạn 3 năm; những người mới học, quy định thời hạn 5 năm làm sao phải biết chữ và nói hiểu thông thạo”[4]

Sát hạch gắt gao, phạt nghiêm - thưởng hậu

Sau mỗi kì học, người theo học ngoại ngữ phải tham dự kì thi sát hạch, ba tháng tiến hành khảo hạch một lần. Trong kì thi sát hạch, căn cứ vào số lượng từ vựng, khả năng đọc dịch để đánh giá xếp loại người học.  Việc xếp loại cũng có sự khác nhau đối với tiếng Anh và tiếng Pháp. Châu bản triều Tự Đức cho biết “Đối với học tập chữ tiếng Anh ở Tứ dịch quán, xếp hạng ưu nếu người học được hơn 100 chữ; xếp vào hạng bình nếu học được 50 chữ; xếp vào hạng thứ nếu số chữ đúng hạn định”[5]; Còn đối với học chữ tiếng Pháp “xếp vào hạng ưu nếu học nhiều hơn 200 câu trở lên, xếp vào hạng bình nếu học thêm 100 câu trở lên, xếp vào hạng thứ nếu số hạn chữ chưa đến 100 câu, hoặc số câu chỉ đúng lệ quy định; (người nào) không đến mức đó thì xếp vào hạng lười biếng…”[6]

 (Trích) Bản Phụng phiến lục của Bộ Lễ ngày 26 tháng 6 năm Tự Đức 22 (1869) về việc qui định học ở Tứ dịch quán. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Để đánh giá khả năng của người học ngoại ngữ, ngoài việc căn cứ vào số lượng từ vựng, thì căn cứ vào khả năng biên dịch “soạn một đạo tư trát, diễn dịch ra chữ quốc âm, rồi dịch ra tiếng Pháp”. Trong một bản tấu của Bộ Lễ khi đề xuất thưởng thụ chức hàm cho người phiên dịch là Nguyễn Hữu Lạng và người hiếu học ngoại ngữ là Lê Văn Tịch, từng được xếp hạng ưu, có thời gian học tập hơn 5 năm, Vua Tự Đức vẫn không phê chuẩn ngay mà ngự phê rằng “Đợi thư của Tây rồi sức cho 2 viên đó dịch riêng, đối chiếu với người Tây, dịch mà không sai thì mới phê chuẩn”[7].

Ngay khi vừa lên ngôi, vào năm Minh Mạng thứ 2 (1821), nhà vua với tầm nhìn chiến lược đã đề ra chính sách ban thưởng hậu hĩnh để khuyến khích việc học ngoại ngữ, nhằm xây dựng đội ngũ thông dịch viên, phục vụ công tác đối ngoại. Theo ghi chép từ Châu bản triều Nguyễn, khi nhận được bản tấu của Tổng trấn Gia Định tìm được 7 người thông thạo tiếng Xiêm La, Cao Miên, Vạn Tượng, nhà vua đã lập tức hạ lệnh ban thưởng, cấp tiền gạo, miễn thuế cho họ để giữ lại Kinh đô làm thông dịch “Tổng trấn Gia Định tâu: ở trấn đã chiêu tập được 7 tên biết thạo chữ và tiếng Xiêm La, Cao Miên, Vạn Tượng, xin cấp cho mỗi tên mỗi tháng 1 phương gạo, 1 quan tiền và cho miễn các loại thuế thân, dung và sưu dịch để bọn ấy ở lại Kinh làm thông dịch. Phụng chỉ: Chuẩn cấp mỗi tên mỗi tháng 2 quan tiền và 2 phương gạo, còn thuế thân thì được miễn”[8]

Dưới triều vua Tự Đức, sau kì thi sát hạch ngoại ngữ, các thí sinh sẽ được phân hạng ưu-bình-thứ và nhận mức thưởng đối với mỗi hạng. Cụ thể “xếp hạng ưu thì được thưởng 6 quan tiền, xếp hạng bình thì thưởng 4 quan tiền, xếp hạng thứ thì không dự thưởng…”[9].

Khuyến khích, chu cấp tiền ăn học, ban thưởng hậu đối với người giỏi, Vua Tự Đức cũng đề ra hình phạt nghiêm khắc đối với người lười biếng. Nếu người học tốt được thăng thưởng và giữ lại Kinh đô làm thông dịch, thì người học kém không những bị xóa tên khỏi danh sách mà còn phải chịu bồi thường “ Tại Kinh, người nào có thể phái làm thông dịch, thì chiếu lệ thăng thưởng, người nào học không thành công thì xoá tên khỏi danh sách hành nhân, giao cho dân và tuyển bổ sung. Số tiền đã chi đào tạo bao nhiêu bắt bồi thường một nửa. Các nha có trách nhiệm đôn đốc cũng đều xét, tuỳ theo đạt nhiều hay ít để thưởng phạt.”[10]. Không chỉ vậy, những người xếp hạng lười biếng phải chịu phạt roi, cứ 10 chữ đánh 10 roi, phạt tội đến 50 roi. Kỳ nào chiếu theo kỳ ấy lĩnh thưởng, chịu phạt.

Nhận thấy những điểm hạn chế khi việc học ngoại ngữ chỉ đơn thuần là “đối thoại giữa thày và trò”, không được tiếp xúc với người bản xứ nên giao tiếp sẽ gặp khó khăn. Để nâng cao trình độ ngoại ngữ, cần phải chú trọng khả năng nghe nói, giao tiếp với người bản xứ. Vì vậy, vào năm Tự Đức 23 (1870), Nguyễn Hoằng – một giáo viên chuyên dạy tiếng Pháp đã đề xuất lên vua Tự Đức, cử học sinh sang Pháp du học trong hai năm “Bộ Lễ tâu: Nay nhận được tờ bẩm của Nguyễn Hoằng bẩm rằng: Các tên trước đây theo tên đó học tập tiếng Pháp là bọn Tòng cửu phẩm hành nhân Nguyễn Hữu Lạng, tất cả 12 tên. Nay hiện đã am hiểu được 6, 7 phần 10 tiếng và chữ, ước chừng ngoài một năm sẽ có thể thông dịch được trát văn. Duy có điều thường ngày chỉ có sự đối thoại giữa thày và trò, chưa từng nghe giọng họ nói, nên nếu như có người Tây qua lại hỏi đáp, e rằng khó nghe hiểu được. Nay bọn chúng cùng xin đến nước đó lưu học trong 2 năm, học thành sẽ trở về công vụ…”[11]

Triều Nguyễn đào tạo ngoại ngữ chủ yếu để phục vụ thông dịch, giao tiếp với các nước phương Tây và việc cử học sinh sang nước ngoài du học là một tư tưởng tiến bộ trong việc tiếp cận nền tri thức mới./.

 

 

 

[1] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Tự Đức, Tập 206, Tờ 221

[2] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Tự Đức, Tập 192, Tờ số 72

[3] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Tự Đức, Tập 206 Tờ 221

[4] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Tự Đức, Tập 328, Tờ số 343

[5] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Tự Đức, Tập 192, Tờ số 72

[6] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Tự Đức, Tập 226, Tờ số 221

[7] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Tự Đức, Tập 213, Tờ số 118

[8] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Minh Mạng, Tập 1, Tờ số 145

[9] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Tự Đức, Tập 192, Tờ số 72

[10] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Tự Đức, Tập 328, Tờ số 343

[11] Châu bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Tự Đức, Tập 231, Tờ số 11

 

Hải Yến