10:54 PM 26/01/2026  | 

Thất bại trong chiến dịch ném bom rải thảm miền Bắc mang tên Linebacker II (diễn ra từ ngày 18-29/12/1972) và đối mặt với làn sóng phản đối mạnh mẽ việc leo thang chiến tranh ở Việt Nam trên khắp thế giới, vào 7 giờ sáng ngày 30/12/1972, Tổng thống Mỹ Nixon buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra Bắc và nối lại các cuộc đàm phán hòa bình tại Paris trước đó với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Vào 12 giờ 30 phút (giờ Paris) ngày 23/01/1973, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ - đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cố vấn Henry Kissinger - đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ ký tắt "Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Ngày 27/01/1973, diễn ra lễ ký chính thức Hiệp định sau gần 5 năm đàm phán kéo dài hết sức khó khăn và phức tạp (1968-1973)[1].

 

Báo Nhân dân và Quân đội nhân dân số ra ngày 25/01/1973 đưa tin về lễ ký tắt

 Hiệp định. Nguồn: TTLTQG I

Thăng trầm Hội nghị Paris

Hội nghị Paris có thể chia thành ba giai đoạn chính, gắn chặt với ba bước ngoặt lớn trên chiến trường Việt Nam. Giai đoạn 1 gắn với thắng lợi Tết Mậu Thân năm 1968 và kéo dài đến đầu năm 1969. Ngày 30/01/1968, cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân ta diễn ra tại nhiều thành phố miền Nam, đặc biệt là cuộc tấn công vào Tòa Đại sứ Mỹ, đã cho thế giới thấy rõ quyết tâm giành độc lập của nhân dân Việt Nam, đồng thời đập tan những ảo tưởng của Mỹ - Ngụy về một chiến thắng trong tương lai. Ngày 16/3/1968, vụ thảm sát Mỹ Lai ở miền Trung Việt Nam khiến công luận thế giới phẫn nộ trước tội ác do quân đội Mỹ - Ngụy gây ra đối với dân thường. Ngày 31/3/1968, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam.

Đoàn VNDCCH, do đồng chí Xuân Thủy làm trưởng đoàn, đến Paris ngày 07/5/1968. Nguồn: Văn Lượng, sách "Hội nghị Paris về Việt Nam, nhìn lại 1968-1973".

Cuộc đàm phán ngày 13/05/1968 tại Paris. Nguồn: AP Image Archives, sách "Lịch sử chiến tranh Việt Nam qua ảnh"

Cuộc đàm phán Việt Nam - Mỹ giữa Bộ trưởng Xuân Thủy và Thứ trưởng A. Harriman tại Paris bắt đầu ngày 13/5/1968 và kết thúc ngày 01/10/1968. Ngày 02/10/1968, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra tuyên bố ghi nhận việc Mỹ chấp nhận chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng thời mở đường cho hội nghị bốn bên.

Ngày 05/11/1968, khi được bầu làm Tổng thống Mỹ, Nixon cam kết rút quân từng bước khỏi Việt Nam (536.100 quân) nhưng theo đuổi chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh, nghĩa là sẽ hậu thuẫn và đào tạo quân đội Việt Nam Cộng hòa thay vì can thiệp trực tiếp. Ngày 25/01/1969, Hội nghị bốn bên gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Mỹ  và Việt Nam Cộng hòa chính thức ngồi vào bàn đàm phán.

Giai đoạn 2 kéo dài từ khi bốn bên ngồi vào bàn đàm phán cho đến giữa năm 1972. Lúc này trên chiến trường, ta chưa giành được thắng lợi mang tính quyết định, thậm chí trong thời gian đầu còn lâm vào tình thế khó khăn. Chính vì thế, đàm phán giậm chân tại chỗ, các bên chủ yếu thăm dò, tố cáo lẫn nhau.

Có thể xem giai đoạn 3 bắt đầu chỉ sau thắng lợi của cuộc tấn công chiến lược Xuân - Hè 1972, khi ta giành được thế chủ động trên chiến trường. Từ đây các cuộc đàm phán mới đi vào thực chất và đi đến việc ký kết chính thức Hiệp định ngày 27/01/1973.

Ngày 29/3/1973, lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam và miền Bắc tiến hành trao trả tù binh Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ cũng bắt đầu chiến thuật Việt Nam hóa chiến tranh. Ở Sài Gòn, chỉ còn lại văn phòng Tùy viên quân sự Mỹ, viện trợ của Mỹ cho quân đội Việt Nam Cộng hòa trong năm 1973 lên đến 2,8 tỷ đô la, đến năm 1974 chỉ còn 1 tỷ đô la.

Hội nghị Paris về Việt Nam diễn ra hết sức căng thẳng và quyết liệt, nhất là bốn tháng đàm phán cuối cùng, bởi Hiệp định lẽ ra đã được ký vào tháng 10/1972.

Đợt đàm phán có ý nghĩa quyết định

Ngày 08/10/1972, mở đầu phiên họp buổi chiều, cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đưa ra Dự thảo "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và Dự thảo "Thỏa thuận về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam”. Sau khi nghiên cứu các văn bản do phía Việt Nam đề xuất, đoàn Mỹ bày tỏ hài lòng.

Trong phiên họp ngày 09/10, Kissinger đề xuất lịch làm việc để có thể ký chính thức vào ngày 25 hoặc 26/10. Kissinger cũng đưa ra một phản đề nghị dưới dạng dự thảo hiệp định, nhấn mạnh quyền viện trợ quân sự của Mỹ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, chấm dứt xâm nhập miền Nam và rút quân miền Bắc Việt Nam ra khỏi Lào và Campuchia.

Ngày 10 và 11/10/1972, hai bên tiếp tục gặp nhau, đặc biệt cuộc họp ngày 11/10 kéo dài hơn 16 giờ, thảo luận những vấn đề như chính quyền ở miền Nam, tổng tuyển cử, trao trả nhân viên dân sự, đóng góp của Mỹ trong hàn gắn vết thương chiến tranh, cũng như chấm dứt chiến sự ở Lào và Campuchia.

Sáng ngày 12/10, hai bên thỏa thuận ngày 17/10, cố vấn Kissinger làm việc với đồng chí Xuân Thủy (do đồng chí Lê Đức Thọ về nước). Buổi làm việc diễn ra như dự kiến, dù căng thẳng, song hai bên đã đạt được hầu hết các vấn đề về cả nội dung lẫn văn bản, trừ hai điểm, đó là nhân viên dân sự bị bắt ở miền Nam và việc thay thế vũ khí.

Ngày 19/10/1972, trong công hàm trả lời công hàm ngày 18/10 của Mỹ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thông báo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận công thức của Mỹ về hai vấn đề nêu trên. Ngày 20/10, Tổng thống Mỹ Nixon gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: "Với hai điều khoản trong Điều 7 và Điều 8 mà phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thỏa thuận, văn bản Hiệp định xem như đã hoàn thành". Sau 20 ngày đàm phán, hai bên hoàn tất văn bản Hiệp định và thỏa thuận sẽ ký chính thức vào ngày 31/10/1972. Nhưng từ ngày 18-23/10/1972, cố vấn Kissinger đến Sài Gòn làm việc với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và phía Thiệu phản đối văn bản Hiệp định. Vin vào cớ đó, Mỹ đề nghị hoãn ngày ký và đề nghị đàm phán lại nhằm sửa đổi văn bản đã thỏa thuận, khiến việc ký kết bị trì hoãn.

Trong hai tháng cuối năm 1972, diễn ra hai cuộc gặp riêng để đàm phán lại Dự thảo Hiệp định: lần thứ nhất từ ngày 20-25/11 và lần thứ hai từ ngày 04-13/12/1972. Qua hai cuộc gặp riêng này, hai bên đã thỏa thuận sửa 91 điểm, trong đó có 27 điểm về thực chất và 64 điểm về kỹ thuật. Ngày 13/12, do hai vấn đề lớn chưa được giải quyết là vấn đề phi quân sự và cách thức ký kết Hiệp định, hai bên tạm ngừng các cuộc họp để các trưởng đoàn về nước báo cáo chính phủ mỗi bên và tiếp tục trao đổi qua công hàm.

Ngày 18/12/1972, Mỹ phát động đợt không kích mang tên Linebacker II ném bom rải thảm miền Bắc Việt Nam[2], đồng thời gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị bốn điểm, trong đó đáng chú ý là đề nghị hai bên quay lại văn bản ngày 23/11/1972. Mỹ muốn dùng cuộc không kích này nhằm ép chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngồi lại vào bàn đàm phán và chấp nhận văn bản này. Linebacker II thất bại, chính quyền Washington hứng chịu sự lên án mạnh mẽ của dư luận thế giới. Vì vậy, ngày 22 và tiếp đó ngày 27/12/1972, Mỹ buộc phải gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị gặp cấp chuyên viên ngày 02/01/19173 và gặp chính thức ngày 08/01/1973, trên cơ sở thỏa thuận đạt được từ tháng 10/1972.

Trước sức ép phải đạt được Hiệp định trước khi Quốc hội Mỹ khóa mới họp lại, ngày 06/01/1973, Tổng thống Nixon thúc giục cố vấn Kissinger tới Paris với nhiệm vụ cố gắng đạt được một giải pháp, ngay cả khi Việt Nam có đưa ra những điều kiện khắt khe.

Báo cáo của cố vấn H. Kissinger trình Tổng thống Nixon về kế hoạch sang Paris ký Hiệp định. Nguồn: Lưu trữ Quốc gia Mỹ.

Lễ ký tắt Hiệp định ngày 23/01/1973. Nguồn: Văn Lượng, sách Hội nghị Paris về Việt Nam, nhìn lại 1968-1973, trang 105.

 Ảnh trên: Đoàn VNDCCH từ trái qua phải: Lưu Văn Lợi (luật gia); Xuân Thủy (Trưởng đoàn); Lê Đức Thọ (cố vấn đặc biệt); Nguyễn Cơ Thạch (Thứ trưởng Ngoại giao); Đào Bá Cự (đứng, Vụ Pháp chế Bộ Ngoại giao).

 Ảnh dưới: Đoàn Mỹ từ trái qua phải: Graham (Lãnh sự Mỹ tại Pháp); Sullivan (Phó trợ lý Bộ trưởng phụ trách Đông Á - Thái Bình Dương); Henry Kissinger (Cố vấn an ninh quốc gia); George Aldrich (Cố vấn pháp lý)

Chính trong bối cảnh đó, hai bên bước vào cuộc gặp riêng cuối cùng từ ngày 08-13/01/1973 và nhanh chóng đạt được thỏa thuận. Ngày 23/01/1973, trên cơ sở kết quả các cuộc gặp trên, Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ - đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger - đại diện cho Mỹ đã ký tắt Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Ngày 27/01/1973, Bộ trưởng Ngoại giao VNDCCH Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Lắm và Ngoại trưởng Mỹ William P.Rogers chính thức ký Hiệp định Paris tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Kléber.

Báo Nhân dân và Quân đội nhân dân số ra ngày 28/01/1973 đồng loạt đưa tin về lễ ký chính thức Hiệp định Paris. Nguồn: TTLTQG I

Trang 2, 19 và 20 của Hiệp định Paris bằng tiếng Anh. Nguồn: Lưu trữ Quốc gia Mỹ

Hiệp định Paris là thắng lợi to lớn của sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trên mặt trận ngoại giao, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, đồng thời nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân trên toàn thế giới trong suốt 4 năm 8 tháng 16 ngày. Hiệp định Paris 1973 mở ra một cục diện mới ở miền Nam Việt Nam.

Phần đầu bài phát biểu trên truyền hình của Tổng thống Mỹ Nixon về việc ký Hiệp định Paris. Nguồn: Lưu trữ Quốc gia Mỹ

 

[1]. Tư liệu tham khảo trong bài viết từ hai cuốn sách: "Mặt trận ngoại giao với cuộc đàm phán Paris về Việt Nam", Bộ Ngoại giao, NXB chính trị quốc gia, 2004 và "Hội nghị Paris về Việt Nam, nhìn lại 1968-1973", Nhà xuất bản Thế giới, 2013.

[2]. Xem thêm bài viết về cuộc không kích này tại https://archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/53-nam-nhin-lai-chien-thang-dien-bien-phu-tren-khong.htm?fbclid=IwY2xjawPVQCtleHRuA2FlbQIxMABicmlkETFoUUFKcWRNVlgzclVnTzBzc3J0YwZhcHBfaWQQMjIyMDM5MTc4ODIwMDg5MgABHtxv8iJ-dbPHtIyH55sPaRIyYNdNj1b-oVvtJzskAXprCCAtALtS6vWePoEQ_aem_yQnniUxpDDPh9svU7MsAsw

Ngọc Nhàn