08:42 AM 05/08/2022  | 

60 năm đã trôi qua kể từ khi thành lập đến nay (04/9/1962 - 04/9/2022), biết bao sự kiện đã diễn ra đối với Kho Lưu trữ TW (tiền thân của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I) nhưng sự kiện về ba lần vận chuyển tài liệu đi sơ tán là sâu sắc nhất, không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của những người thế hệ chúng tôi…

Kho Lưu trữ TW trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ

Chỉ hai năm sau khi ra đời, với sự kiện Vịnh Bắc bộ, ngày 05/8/1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt nhiều năm bằng không quân ra miền Bắc Việt Nam.

Ngày 02/4/1964, Phủ Thủ tướng ban hành Chỉ thị số 24-TTg về công tác phòng không nhân dân, trong đó nêu rõ: “Đối với hồ sơ, tài liệu các cơ quan phải tiến hành phân loại và có kế hoạch bảo vệ chu đáo”. Tiếp đó, ngày 08/6/1964 Hội đồng Chính phủ ban hành nghị quyết số 100-CP về công tác phòng không, sơ tán, nêu rõ: “Về việc bảo quản tài liệu: các Cơ quan, Xí nghiệp có trách nhiệm phân loại, lưu trữ và có biện pháp bảo vệ chu đáo các tài liệu quý… Cục Lưu trữ Phủ Thủ tuớng có trách nhiệm hướng dẫn việc phân loại tài liệu và đề ra nội quy, chế độ bảo vệ tài liệu lúc bình thường cũng như lúc có báo động”.

Chấp hành các văn bản trên của Phủ Thủ tướng, lãnh đạo Cục Lưu trữ đã lên Tuyên Quang tìm địa điểm để xây dựng kho bảo quản tài liệu sơ tán.

Đến khoảng tháng 7/1964, công trường xây dựng công trình Kho sơ tán tài liệu do Bộ Kiến trúc chủ trì đã được tiến hành lấy tên là “Công trường 105”. Khoảng cuối năm 1966, Kho xây dựng xong. Tất cả công nhân xây dựng kho đều phải được Bộ Công an xem xét kỹ lưỡng về lý lịch, phẩm chất đạo đức. 

Sau khi hoàn thành việc xây dựng kho, công việc vận chuyển tài liệu từ Hà Nội lên được tiến hành khẩn trương nhưng rất nghiêm ngặt và cẩn trọng, những nguời đi theo áp tải tài liệu cũng được lựa chọn cẩn thận, bảo đảm về mặt lý lịch và phải thông qua Bộ Công an xem xét.

Cơ sở vật chất cụ thể và thực tế của Kho và khu vực bên ngoài Kho gồm có:

- Nhà kho được xây dựng kiên cố trong hang núi với 6 tầng, cửa ra vào bằng sắt rất dày, nặng, chắc chắn, trong kho có giá bằng gỗ tốt để tài liệu, có điện chạy bằng máy phát điện bên ngoài kho để đảm bảo ánh sáng làm việc và chạy máy điều hoà để bảo vệ tài liệu không bị ẩm, mốc;

- Bên ngoài cửa Kho xây một nhà nhỏ làm nơi hội họp (Đoàn thanh niên đã tổ chức Hội nghị Khoa học tại đây);

- Một chòi canh có chiến sỹ công an thay phiên nhau bồng súng gác suốt ngày đêm;

- Khu ngoài cùng trước khi vào khu vực Kho, gần đường là khu nhà ở của đơn vị công an vũ trang bảo vệ Kho;

- Khu nhà ở của cán bộ, viên chức độc thân,  gồm có: ba dãy nhà xây, mái lợp fibrociment lưng dựa vào vách núi theo hình chữ U;

- Một nhà để xe ô tô;

- Một bếp ăn tập thể mái vòm quay mặt đối diện với khu nhà ở;

- Một nhà trẻ, một nhà để máy phát điện.

Tất cả cán bộ độc thân đều ăn bếp ăn tập thể do bác Thanh - vợ bác Diệm nấu ăn. Thực phẩm phải đi chợ Bâm mua (cách Kho gần 15 km một tuần mới họp một phiên) vì thế anh em đã trồng rau, nuôi gà để hỗ trợ cho bếp ăn.

Khu  nhà ở cho các gia đình ở phía trong, gần suối (gia đình các bác: Viên-Thược, Diệm-Thanh, Ngân-Dung-bố mẹ đẻ của chị Ngần đều ở đây cùng nhiều gia đình khác…).

Hàng ngày cứ đến giờ là tất cả mọi người đều vào kho làm việc, trước khi vào kho đều phải ghi tên đăng ký vào một cuốn sổ để ngoài cửa kho. Hết giờ làm việc, thanh niên thì chơi thể thao gồm có bóng chuyền, bóng bàn; các gia đình thì tăng gia: trồng rau, ngô, khoai, mía để chưng cất mật.

Ngoài giờ làm việc, Cơ quan còn tổ chức các lớp dạy ngoại ngữ, gồm: tiếng Pháp, tiếng Đức cho anh, chị em trong Cơ quan (Bác Hiệu dạy tiếng Đức, Bác Hoàng Gioong và tôi dạy tiếng Pháp), hai lớp bổ túc văn hoá (lớp bốn và lớp sáu) dạy cho các anh, chị em người dân tộc chưa có điều kiện học trước khi vào làm việc ở Cơ quan. Giáo viên là những người đã tốt nghiệp đại học như chúng tôi đứng lớp.

Chi đoàn thanh niên hoạt động rất tích cực, đã từng tổ chức sinh hoạt Hội nghị Khoa học nghiệp vụ, là nòng cốt dạy bổ túc văn hoá, lúc đó chúng tôi còn tuổi đoàn đều trở thành các thày dạy các lớp bổ túc văn hoá.

Tiểu đội tự vệ thường xuyên luyện tập, đã tham gia cùng với lực luợng tự vệ của xã Tuân Lộ vây bắt tên đại tá phi công Mỹ khi máy bay của hắn bị lực lượng phòng không của ta bắn cháy rơi tại khu vực núi Bàu thuộc địa phận xã Tuân Lộ.

Những năm, tháng không thể nào quên

Đó là các thời kỳ di chuyển tài liệu đi sơ tán trong cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta và chiến tranh Biên giới phía Bắc năm 1979.

Sau sự kiện Vịnh Bắc bộ ngày 05/8/1964, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nước ta.

Khoảng năm 1967:  Kho Lưu trữ TW đã di chuyển tài liệu cùng cán bộ, viên chức lên làm việc tại Kho sơ tán trên núi rừng Tuyên Quang. Tuy nhiên, một số cán bộ cùng một số tài liệu vẫn ở lại ở kho 31B Tràng thi Hà Nội để phục vụ các nhu cầu nghiên cứu, sử dụng tài liệu của độc giả.

Thời kỳ này, tài liệu được chuyển bằng ôtô ra bến Phà Đen ở Hà Nội rồi đưa xuống tàu thủy chạy lên bến Bình Ca của tỉnh Tuyên Quang sau đó bốc lên ôtô chuyển về Kho K.5 tức là kho sơ tán của Kho Lưu trữ TW ở xã Tuân Lộ, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang (cũng trong giai đoạn này, nhiều Cơ quan đã sơ tán tài liệu lên núi rừng Tuyên Quang ở những địa điểm khác nhau như: Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Văn hoá, Nha Khí Tượng… và được đánh số: K.1, K.2…K.5).

Đội tự vệ của Kho Lưu trữ TW tại nơi sơ tán trên núi rừng Tuyên Quang, năm 1972 (Ảnh do bác Ngô Thiếu Hiệu chụp; tác giả bài viết Đinh Hữu Phượng mặc áo vá vai, hàng đứng thứ nhất từ trái sang)

Đào hầm trú ẩn ở nơi sơ tán trên núi rừng Tuyên Quang (Tác giả bài viết Đinh Hữu Phượng mặc áo may ô, giơ cuốc)

Năm 1972: Khi đế quốc Mỹ đánh phá Hà Nội bằng máy bay, Cục Lưu trữ quyết định di chuyển toàn bộ số tài liệu còn lại ở kho 31B Tràng Thi - Hà Nội lên khu sơ tán ở xã Tuân Lộ, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Thời kỳ này tài liệu được chuyển bằng ôtô, cứ chiều tối là khởi  hành, lên đến nơi thì trời tối mịt, anh, chị em đã cõng các hòm tài liệu trên lưng từ ôtô xuống mang cất vào kho trong hang núi, mồ hôi ướt đầm lưng áo nhưng không ai kêu ca, phàn nàn. Tôi đã làm một bài thơ về việc vận chuyển tài liệu nhan đề là: “Đêm chuyển tài liệu đi sơ tán”, có những câu như sau:

 “….Áo ướt đẫm mồ hôi mà chẳng mệt, chẳng kêu,

Hòm tài liệu trên lưng tiếp ta thêm sức mạnh,

Nhanh chút nữa hỡi các anh, các chị,

Trời sắp sáng rồi chiếu rọi ánh bình minh,

Tài liệu ta an toàn rồi trong hang núi uy nghiêm” .

Cán bộ, công nhân viên đi theo bảo vệ tài liệu và ở lại khu sơ tán trên rừng núi Tuyên Quang từ khoảng năm 1967 đến 1973 thì được về Hà Nội tức là trải qua bảy năm trời. Về phần tài liệu thì đến năm 1984 cũng chuyển hết về Hà Nội, kho bàn giao lại cho địa phương xã Tuân Lộ, tức là 20 năm trời tài liệu để ở nơi sơ tán.

Năm 1979: Khi cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, Cục Lưu trữ quyết định di chuyển một số phông tài liệu quan trọng của cả hai thời kỳ trước và sau tháng 8/1945 vào Kho Lưu trữ TW II ở TP Hồ Chí Minh (số nhà 2 ter đường 30-4 nay là đường Lê Duẩn). Tài liệu được chuyển bằng ôtô ra ga Hàng Cỏ (tên cũ của Ga Hà Nội) rồi đưa lên tàu hoả. Tất cả có ba chuyến tàu chở tài liệu vào sơ tán ở Miền Nam do tôi, anh Châu Đình Nguyên và anh Đặng Đình Côn áp tải. Mỗi chuyến tàu chở tài liệu ngoài người của Cơ quan đi theo áp tải còn có ba chiến sỹ công an vũ trang mang theo súng đi theo cùng áp tải tài liệu.

Ngày ấy tàu phải chạy đúng ba ngày, ba đêm mới vào đến Tp. Hồ Chí Minh. Mỗi khi đến một ga nào đó tàu dừng cho khách lên, xuống là những người áp tải chúng tôi phải xuống tàu đứng ở toa tàu chở tài liệu để quan sát khi tàu chạy mới lên tàu. Khi đến các ga lớn tàu dừng lâu thì Trưởng của ga đó phải lên tàu ký vào biên bản hành trình của chuyến tàu xác nhận tài liệu vẫn an toàn. Cứ như vậy suốt ba ngày, ba đêm ngủ rất ít, lại phải canh chừng tài liệu nên chúng tôi rất mệt.

Tàu dừng ở ga Sóng Thần (cách Sài Gòn 15 km vì nếu vào ga Bình Triệu thì khách lên xuống tàu đông không bảo đảm an toàn cho tài liệu). Bác Võ Văn Sáu (Trưởng Kho lúc đó tương đương Giám đốc hiện nay) cùng cán bộ, viên chức của Kho II đã chờ sẵn, có cả một tiểu đội công an đi theo bảo vệ tài liệu, vào đến Kho II cũng đã khoảng 10 giờ đêm, mọi người lại bốc, xếp tài liệu vào kho đến khoảng 2 giời sáng mới xong.

Sau khi ba chuyến tàu chở tài liệu đã vào đến Kho LTTWII an toàn thì những người áp tải tài liệu trở về Hà Nội; chỉ còn lại tôi, anh Nghiêm Kỳ Hồng và anh Châu Đình Nguyên ở lại trong Kho Lưu trữ TWII trong hơn ba năm để trông coi tài liệu (từ 1979 đến cuối năm 1982 mới chuyển tài liệu trở về Hà Nội). Chúng tôi đã sinh hoạt, làm các công việc như cán bộ của Kho Lưu trữ TW II, đã đi tăng gia sản xuất tự túc lương thực dưới ruộng ở thôn Hậu Mỹ Trinh, xã Cai Lậy, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Có thời kỳ phải ở một mình dưới ruộng để trông coi ruộng lúa, chăn nuôi lợn hàng tháng trời trong một cái chòi tre lá sơ sài giữa cánh đồng, xa dân.

Đây là các thời kỳ vô cùng khó khăn, gian khổ của các công chức, viên chức Cục Lưu trữ, Kho Lưu trữ TW chống lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ và của quân bành trướng Trung Quốc; đồng thời khắc phục muôn vàn gian khổ, thiếu thốn để bảo vệ an toàn tuyệt đối tài liệu của quốc gia, dân tộc và phục vụ tốt nhu cầu nghiên cứu, sử dụng tài liệu trên nhiều lĩnh vực của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đến từ nhiều quốc gia trên thế giới.

Tất cả đã trôi vào dĩ vãng nhưng những người trong cuộc như chúng tôi thì vẫn còn nhớ như in và tưởng như mới hôm qua, gần lắm, ký ức ngày xưa…

Đinh Hữu Phượng