11:32 PM 13/01/2023  | 

Câu chuyện này vừa chạm mốc 50 năm quá khứ. Những con người ngày ấy nay đã bước vào ngưỡng cửa “Xưa nay hiếm” rồi.

Chúng tôi ngày đó

Sau 81 ngày đêm chốt giữ, bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, bộ đội được lệnh rời thành ngày 16 tháng 9 năm 1972. Kể từ đây, ranh giới tạm thời giữa ta và địch là hai bờ Nam - Bắc sông Thạch Hãn. Quân địch chiếm giữ dải đất nhỏ hẹp ở đồng bằng, ven biển phía Đông. Toàn bộ phần rừng núi phía Tây Quảng Trị vẫn thuộc quyền kiểm soát của quân Giải phóng. Cũng từ đây, mọi chi viện cho mặt trận đều được vận hành qua khúc sông ở lòng chảo Ba Lòng, đoạn phía trên của sông Thạch Hãn.

Tết Quý Sửu (1973) dường như đến sớm hơn mọi năm khi chiến trường Quảng Trị vẫn đang nóng bỏng từng ngày trước và ngay sau thời điểm Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết có hiệu lực trên chiến trường ngày 27 tháng 1 năm 1973.

Thời điểm đó, các trận địa pháo 130 ly của Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 45 pháo binh chúng tôi vẫn phải căng mình hỗ trợ bộ binh phía trước để giữ vững vùng giải phóng, chống địch lấn chiếm. Những trận đánh cuối cùng thật sự ác liệt và tổn thất khá nhiều xương máu bộ đội vì chưa bao giờ quân ta phải theo đuổi một chiến dịch quân sự dài ngày như bấy giờ. Chiến sự đã kéo sang tháng thứ 10, mọi điều kiện vật chất đều không cho phép ta đẩy cao thế trận phản công, khi mà so sánh lực lượng đang nghiêng về phía địch. Chỉ có tinh thần và ý chí của những người “Lính Cụ Hồ” là đối phương không thể vượt thôi.

Lúc này trong chúng tôi, chẳng một ai nghĩ đến Tết cả, mặc dù nó đã ở sát bên. Mà nếu có cũng chỉ là ý nghĩ thoáng qua vì sự sống và cái chết còn gần chúng tôi hơn ngày Tết. Đối mặt với kẻ địch giàu có súng đạn, mạng sống còn lo không giữ nổi, lo gì đón Tết? 

Thực tế có rất nhiều đồng đội tôi đã ngã xuống trước ngưỡng cửa năm mới Quý Sửu 1973. Họ đã mãi mãi nằm lại chiến trường, đón một cái Tết trong lòng đất giá lạnh và cô đơn...

Càng gần đến ngày ký Hiệp định Paris thì các trận đánh càng trở nên quyết liệt hơn. Căng thẳng nhất lúc này là khu vực cảng Cửa Việt. Tranh chấp diễn ra từ ngày 25 tháng 1 đến ngày 31 tháng 1 năm 1973 (trước Tết đúng 2 ngày) ta mới giành được thắng lợi ở đây, đẩy lùi Quân lực Việt Nam Cộng hoà ra khỏi cảng Cửa Việt.

Trận đánh cuối cùng ở cảng Cửa Việt là một trận đánh giành giật vị trí cảng biển duy nhất ở Quảng Trị. Mọi cố gắng của cả hai bên đều đổ dồn vào nhằm chiếm được vị trí quan trọng này. Tính toán của phía Việt Nam Cộng hoà là bí mật đổ một lực lượng mạnh nhất gồm xe tăng, thiết giáp và lính thuỷ đánh bộ chiếm cảng Cửa Việt trước giờ quy ước ngừng bắn. Họ sẽ cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng hoà để Uỷ ban Quốc tế công nhận sự hiện diện của họ ở cảng Cửa Việt trước 7 giờ sáng giờ Hà Nội (8 giờ sáng giờ Sài Gòn). 

Tình hình trên toàn mặt trận cũng diễn ra tương tự như ở cảng Cửa Việt. Cả hai bên địch - ta đều thể hiện quyết tâm giành thêm những phần đất có ý nghĩa chiến lược trước giờ ngưng tiếng súng. Pháo 130 ly của chúng tôi được lệnh nổ súng liên hồi kỳ trận, anh em pháo thủ mệt đến mức kiệt sức vì phải bắn quá nhiều. Đạn pháo 130 ly của ta dội xuống đội hình lấn chiếm của địch, hỗ trợ bộ binh xung phong ào ạt vào các cụm cứ điểm địch, nhiều chỗ đánh giáp lá cà, tiêu diệt và bắt làm tù binh nhiều xe tăng, xe thiết giáp và lính thuỷ quân lục chiến của địch.

Khi Hoa Kỳ chấp nhận rút toàn bộ quân đang tham chiến trên chiến trường miền Nam Việt Nam là thắng lợi cực kỳ quan trọng của quân và dân ta trên con đường giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Với những người lính trận đang hàng ngày, hàng giờ giáp mặt với cái chết thì đó là niềm vui vô bờ bến như nhìn thấy sự sống trước mắt mình. Bởi vậy ai cũng hồi hộp chờ đón thời khắc lịch sử ấy. Không ai nghĩ gì về Tết cả vì Tết lúc này, đó là một câu chuyện quá ư phù phiếm với chúng tôi. Sự sống của các chiến binh được tính từng giờ mà sao nó chậm chạp trôi qua như diễu cợt chúng tôi vậy. Nghĩ đến Tết lúc này chỉ làm cho ý chí của ta mềm yếu hơn thôi. Bởi vì, kỷ niệm về Tết thời thơ bé bên gia đình cùng cha mẹ, anh em lại có dịp ùa về, nỗi nhớ đó làm ta bật khóc vì sự cách trở quá đau đớn này. Do vậy ở nơi trận mạc khốc liệt, chúng tôi chỉ nghĩ về sự sống trước mắt mà thôi. 

Giở lại những trang nhật ký, ghi chép ngày đó mới thấy hết những gian khổ, hy sinh của bộ đội Quảng Trị khi đó.

“Ngày 28 tháng 1 năm 1973 (tức ngày 25 Tết): 

Hôm nay ngày Hiệp định Đình chiến Paris có hiệu lực.  Cả hai bên tham chiến đều tranh thủ thời điểm giao thời này để thực hiện ý định của mình... Trời vẫn đổ mưa từng hồi, tiếng súng vẫn chưa ngừng hẳn mặc cho đã hơn cả giờ đồng hồ vượt qua mốc hiệu lực của Hiệp định. Máy liên lạc vô tuyến 15w của H.802 đã cạn ắc quy, tôi được lệnh về ngay Tiểu đoàn bộ để đổi bình ắc quy mới. Đường đi ven các con suối trơn như đổ mỡ, làm cho đôi dầy vải cao cổ của tôi ngập trong bùn đất. Ra đến kilomet 2 đường 15L thì gặp anh em bộ binh vừa chiến đấu ở phía Đông đang di chuyển về phía Tây. Đây là những thương  binh nhẹ, băng bó trắng toát nhưng vẫn tự đi được về phía sau. Những người bị thương nặng thì được cáng trên võng. Tất cả đều lầm lũi, gương mặt không có biểu cảm gì... Chắc chắn họ đang đói, khát và mệt mỏi vì căng thẳng... Đi bộ vài cây số nữa thì ra đến lòng chảo sông Ba Lòng. Từ đây, gặp một xe ô tô chạy cùng chiều, lái xe dừng lại cho tôi đi nhờ. Lúc này trên thùng xe đã chật kín lính tráng. Chẳng ai nói với ai câu nào, chỉ biết rằng ai cũng có cảm giác hài lòng khi được chạy xe ô tô giữa ban ngày ban mặt mà không còn lo bị máy bay địch bắn...”

Tiết xuân năm ấy thời tiết ở miền Trung thay đổi bất thường, từ Đèo Ngang trở vào dọc dải miền Trung mưa tầm tã. Trời đất như muốn khóc thay cho những người lính trận ở Quảng Trị vậy. Mưa to liên tục, nước sông Ba Lòng lên cao ngập bờ, cuồn cuộn chảy xuôi về biển. Ở thượng nguồn là ta, ở hạ nguồn là địch. Để tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men y tế và đạn dược, bộ đội phải dùng bao nilon gạo Trung Quốc làm phao bơi, đánh cược số phận mình cho sông nước. Trên bờ là đạn bom của quân địch, dưới sông là cuồn cuộn sóng nước, chỉ sơ xẩy là bị nước cuốn trôi vào vùng địch rồi, hoặc là trở thành tù binh, hoặc là bị tiêu diệt ngay tức khắc. Ngày ấy lính ta hay nghêu ngao câu hát chế từ bài hát Tiếng đàn Ta Lư của nhạc sỹ Huy Thục: "Sông Ba Lòng nhấn chìm đời con/ Ôi mẹ cha tha thứ đời con chia lìa từ đây". Vào thời khắc đó, bộ đội ta hi sinh rất nhiều khi họ vượt qua khúc sông hiểm trở Ba Lòng để vào trận đánh chống lấn chiếm trước khi Hiệp định Paris ký kết.

Tết năm đó với chúng tôi quả thật rất tâm trạng. Cả đại đội quây quần bên nhau xung quanh chiếc đài bán dẫn Orironton để nghe Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng chúc Tết với tâm trạng bồn chồn, lo lắng vì miền Bắc vừa trải qua trận “Điện Biên Phủ trên không”. Miền Bắc yêu dấu của chúng tôi vừa trải qua những ngày tháng sinh tử, với những trận oanh kích man rợ nhất trong lịch sử chiến tranh bằng máy bay B-52. Ở nơi ấy có gia đình với những người thân yêu nhất của chúng tôi mà chúng tôi vẫn chưa biết ai còn, ai mất?

Chúng tôi đón cái Tết Quý Sửu thật đạm bạc trong một cái lán dựng tạm nơi khu rừng thưa ven suối. Bộ phận hậu cần cũng cố gắng lo cho bộ đội một chút vật chất tươi để đón Tết. Đã lâu rồi từ khi vào chiến đấu, đây là lần đầu chúng tôi được nhìn thấy món thịt lợn luộc truyền thống trong câu ca dao:

“Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/ Cây nêu ngày Tết bánh chưng xanh”. Ở đây trong không gian chiến trận này, chúng tôi chỉ có thịt mỡ tươi thôi, thế cũng là quý hoá lắm rồi. Thoải mái nhất lúc này là thuốc lào, thuốc lá. Mỗi người được cấp 2 bao thuốc lá Điện Biên bao bạc và 1 gói thuốc lào Hải Phòng hiệu “Độc Lập”. Những bộ quân phục mới nhất được chúng tôi mang ra mặc để cho có vẻ ngày đầu năm mới!

Buồn nhất với chúng tôi là sự mất tích khó hiểu của người đồng đội khi chỉ còn ít ngày nữa là Tết. Tiếng súng trận đã ngừng. Cả đơn vị thiếu thực phẩm nghiêm trọng. Anh em toả đi các nơi để kiếm nguồn thực phẩm tươi cho đơn vị cải thiện. Gần trận địa pháo có một quả đồi trồng sắn của đồng bào dân tộc Vân Kiều. Chúng tôi cố gắng tìm kiếm người đồng bào để xin lá sắn về muối chua cho bộ đội ăn mà không thấy. Chắc họ đã lùi sâu vào rừng Trường Sơn nương náu nên không thể gặp. Vậy là chúng tôi tự động hái ngọn lá sắn cho vào túi bao gạo mang về làm món dưa chua. Một bộ phận khác kéo nhau ra sông Ba Lòng nổ bộc phá cho cá chết vì sức ép nổi lên thì vớt mang về. Trong đội đi đánh cá có một chiến sĩ người dân tộc Tày ở Lạng Sơn mới bổ xung vào đơn vị. Người này vì không biết bơi nên được phân công ngồi trên bờ trông quần áo và trông cá mới bắt được. Anh em mải bắt cá, đi quá xa, khi quay trở lại thì không thấy người đồng đội của mình ở đâu nữa. Nước sông mênh mông quá, mọi người gào khóc kêu tên anh trong vô vọng. Không hiểu Nông Văn Hang bị nước sông cuốn trôi hay bị địch bắt sống? Không có câu trả lời chính xác cho chúng tôi. Ngày hôm sau, đơn vị lại cử một đội tìm kiếm, quần thảo cả một ngày trời trên bờ Nam sông mà vẫn không biết cậu ta ở đâu. Đấy là nỗi đau buồn cuối cùng của chúng tôi khi ngày Tết đã cận kề...

Chúng tôi trở về chuẩn bị đón giao thừa thì Trần Huy Thông, người bạn thân thiết nhất của tôi xuất hiện trước căn hầm chỉ huy sở đại đội với một khẩu AK báng gấp đeo trước ngực. Thông được chọn làm cận vệ cho Chính trị viên phó Tiểu đoàn Nguyễn Ngọc Nhạ vào uý lạo Đại đội 802. Vậy là vui quá rồi vì từ đầu chiến dịch đến giờ chúng tôi mới lại có dịp ngủ chung với nhau trong một căn hầm. Ôi biết bao là chuyện trong gần một năm qua. Bởi vậy cả đêm hầu như chúng tôi không ngủ được vì kể chuyện cho nhau nghe.

Ngày Tết tưởng như trôi qua âm thầm nơi rừng núi bỗng trở nên rộn rã khi xuất hiện đội Văn công Xung kích của Bộ Tư lệnh Pháo binh vào tận trận địa ca hát phục vụ bộ đội. 

Đây là vị trí xa nhất trong đội hình chiến thuật của Lữ Đoàn 45 PB. Chắc vì vậy mà chúng tôi được ưu ái hơn chăng? Trong đội văn nghệ xung kích đó, tôi được gặp hai người bạn học cùng nhập ngũ với tôi tháng 5/1971. Đó là ca sĩ Hương Xoan và tay đàn Phong cầm Trần Quý Liên. Cô bé Xoan có chút trang điểm môi son má hồng bỗng trở nên xinh đẹp lạ lùng, giọng hát thì cao vút, khỏi chê. Trần Quý Liên thì vẫn nhỏ bé thư sinh như ngày nhập ngũ, ăn cơm bộ đội 2 năm rồi mà chẳng thấy cậu phổng phao chút nào. Thật quý khi gặp nhau nơi chiến địa nhưng hai bạn bận rộn di chuyển phục vụ các đơn vị bộ đội nên chúng tôi cũng chẳng kịp tâm sự với nhau gì cả.

Hôm nay vừa tròn nửa thế kỉ của sự kiện này, chúng ta lại có dịp nhớ về những năm tháng khó khăn đó. Quả thật, trí nhớ của con người có thể phai mờ đi rất nhiều kí ức nhưng có những kí ức thì mãi mãi được khắc ghi trong trái tim, não bộ con người. 50 năm ấy với chúng tôi - những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu ở Quảng Trị năm 1972-1973, vẫn nhớ như in cái Tết Quý Sửu (1973) với biết bao kỉ niệm buồn vui của cuộc đời chiến trận, với những đồng đội nhường cơm sẻ áo cho nhau, người còn, người mất.

Tết Quý Sửu (1973), một cái Tết vỡ oà trong niềm vui cho mỗi con người, mỗi gia đình và cả dân tộc khi đã đằng đẵng đợi chờ thời khắc ấy, sau 9 năm chống Pháp và gần 20 năm chống Mỹ, cuộc chiến lúc này đã được thu gọn về quy mô, nó chỉ còn là sự giải quyết nội bộ giữa người Việt Nam trong mục tiêu thống nhất non sông đất nước. Nó trở thành tiền đề cho cuộc khải hoàn ca vang lên lúc 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975 để cả dân tộc Việt Nam chung một niềm vui thống nhất!

Với chúng tôi, Tết Quý Sửu - cái Tết đầu tiên bộ đội Quảng Trị được đón Tết khi tiếng súng vừa ngưng trên trận địa còn chưa kịp tan hết khói súng.

Nguyễn Xuân Vượng