KỲ I. SỰ RA ĐỜI CỦA NHƯỢNG ĐỊA PHÁP Ở HÀ NỘI
Hình hài một nhượng địa[1]
Trước đó, vào tháng 02/1874, Philastre và đại diện triều đình Huế đã ký một thỏa thuận đặc biệt, theo đó triều đình nhà Nguyễn yêu cầu quân Pháp di dời mộ của Francis Garnier, Balny và bốn lính thủy đến khu vực do triều đình chỉ định. Theo triều đình nhà Nguyễn, việc lính Pháp tử trận trong trận Phủ Hoài Đức được chôn trong thành Hà Nội và khu vực điện Kính Thiên đã làm uế tạp không gian linh thiêng. Vì vậy, triều đình ra lệnh cho Tổng đốc Hà Nội cấp cho Giám đốc Công binh Nam Kỳ - trung tá Varaigne một mảnh đất để làm nghĩa trang chôn lính Pháp.
Sau khi Hòa ước ký ngày 15/3/1874 được phê chuẩn, Thống đốc Nam Kỳ bắt đầu quan tâm đến việc thiết lập các cơ quan thường trực của Pháp ở Bắc Kỳ. Tháng 12/1874, đại úy Công binh Dupommier được cử đến Hải Phòng và Hà Nội để nghiên cứu tình hình thực địa, thu thập thông tin cụ thể trình báo cáo chính quyền Pháp ở Nam Kỳ. Tiếp đến, ngày 01/01/1875, trung tá Varaigne - người có nhiều kinh nghiệm trong việc thương lượng với triều đình Huế về việc lựa chọn vị trí cho quân đồn trú Pháp theo Hòa ước 1874 tại Quy Nhơn được cử đến Bắc Kỳ.
Cuối tháng 02/1875, cả Dupommier và Varaigne đều trở về Nam Kỳ để chuẩn bị xây dựng một số công trình ở Bắc Kỳ. Việc thiết kế các công trình này được giao cho đại úy Andry thuộc Công binh Pháp ở Sài Gòn, theo đó, sắt được sử dụng làm cốt bê tông và khung được đặt hàng từ Pháp.
Việc tổ chức các cơ quan thường trực tại Bắc Kỳ đòi hỏi một lực lượng nhân sự lớn và chi phí đáng kể. Tuy nhiên, đô đốc Duperré - người kế nhiệm đô đốc Dupré không tin tưởng vào tương lai của Pháp ở Bắc Kỳ như người tiền nhiệm. Tháng 4/1875, đại úy Dupommier tiếp tục được phái ra Bắc Kỳ, với nhiệm vụ triển khai hai dự án nhượng địa tại Hà Nội và Hải Phòng, theo đó quy mô nhượng địa Hà Nội được giới hạn như sau: chính quyền Pháp thuê các ngôi nhà bản xứ trong thời gian một năm để làm trụ sở lãnh sự và doanh trại cho Đại đội Bộ binh Hải quân, đồng thời xây dựng nghĩa trang để chôn cất Garnier và đồng đội của ông ta. Đại úy Dupommier chỉ ở lại Hải Phòng trong thời gian cần thiết để triển khai công trình, sau đó nhanh chóng lên tàu Espingole về Hà Nội cùng một thông ngôn bản xứ và một két tiền. Một ủy ban gồm hai sĩ quan Bộ binh Hải quân và một bác sĩ được thành lập nhằm hỗ trợ viên đại úy này trong việc lựa chọn các tòa nhà cần thuê.
Vào thời điểm đó, Lưu Vĩnh Phúc cùng đông đảo quân Cờ Đen vẫn đang đóng tại Hà Nội. Sau vài ngày thảo luận, chính quyền nhà Nguyễn tại Hà Nội đồng ý cấp các tòa nhà ở Trường Thi cho quân Pháp - đây cũng chính là các tòa nhà từng bị Francis Garnier và tùy tùng chiếm dụng. Một thỏa thuận được ký kết giữa Tổng đốc Hà Nội Trần Đình Túc với chính quyền Pháp về việc cho thuê vô thời hạn các tòa nhà này và Công binh Pháp được lệnh nhanh chóng tiến hành quy hoạch, cải tạo.
Tuy nhiên, khi công trình đang thi công, Tổng đốc Trần Đình Túc thông báo kỳ thi Hương diễn ra vào năm sau sẽ được tổ chức tại Trường Thi, trong khi Công binh Pháp đã chi hơn nửa kinh phí được cấp, và chỉ còn 20 ngày trước khi viên lãnh sự cùng các nhân sự Pháp đến Hà Nội.
Chỉ huy cấp cao của Pháp ở Hải Phòng - người được cử làm Công sứ chính trị đã được tham vấn và ra lệnh tiếp tục thi công. Quyết định này buộc triều đình Huế tức tốc gửi thư cho Thống đốc Nam Kỳ - Đô đốc Duperré. Nhằm tránh mọi đối đầu trong bối cảnh chính quyền Pháp vừa được thiết lập ở Bắc Kỳ sau Hòa ước, Duperré hứa sẽ rút khỏi Trường Thi ngay khi kỳ thi bắt đầu. Khi các chỉ thị mới tới Bắc Kỳ vào tháng 7/1875, Pháp vẫn chưa chọn được vị trí xây dựng các cơ sở thường trực trong tương lai, cũng như chưa tiến hành bất kỳ nghiên cứu chi tiết nào. Tuy nhiên, ngày 16/10/1876, Trường Thi được trả lại cho triều đình nhà Nguyễn, dưới sự giám sát của viên lãnh sự Pháp đầu tiên khi đó là bá tước De Kergaradec, theo thỏa thuận ký vào tháng 8/1875.
Trong giai đoạn đầu hiện diện tại Bắc Kỳ, Pháp gặp nhiều khó khăn, trước tiên là việc xác định chính xác địa giới hành chính của các khu đất được cấp. Sau nhiều cuộc thương thảo, triều đình chấp thuận cấp cho mỗi nhượng địa của Pháp ở Hà Nội cũng như ở Hải Phòng một mảnh đất rộng 5 mẫu (tương đương 2,5 héc-ta). Tuy nhiên, phía Pháp cho rằng diện tích đó là không đủ và yêu cầu thương lượng lại. Vì mong muốn quân Pháp nhanh chóng rời khỏi Trường Thi, Tổng đốc Hà Nội buộc phải đồng ý cấp cho Pháp 18 héc-ta, trong khi các cuộc thương lượng về nhượng địa ở Hải Phòng diễn ra khó khăn hơn.
Những bất đồng cũng xảy ra giữa đại úy Dupommier - Chỉ huy trưởng công trình và viên phụ tá. Năm 1876, dịch tả hoành hành ở Hà Nội, khiến một số cai người Pháp thiệt mạng, trong đó có viên phụ tá của đại úy Dupommier cùng một số nhân viên dân sự. Để ngăn chặn tình trạng nhân công bản xứ trốn khỏi công trường, chính quyền Pháp áp dụng biện pháp vệ sinh nghiêm ngặt: cấm uống nước cũng như các loại đồ uống khác, phát trà miễn phí và điều này đã góp phần cải thiện tình hình vệ sinh dịch tễ.
Khó khăn tiếp theo chính là vật liệu xây dựng. Vào thời điểm đó, ở Bắc Kỳ chưa có bất kỳ công trình nào do người Âu xây dựng, lao động lành nghề thiếu trầm trọng, nhưng bù lại nguồn nhân công phổ thông dồi dào, khéo léo và giá rẻ. Năm 1875, để đắp nền và làm đường, chính quyền Pháp thuê nhân công bản xứ vận chuyển 100.000m3 lấy từ lòng sông Hồng, cách đó khoảng 100m vẻn vẹn trong 3 tháng, với phương tiện hoàn toàn thô sơ là quang gánh, với chi phí 0,35 franc/m3.
Các tòa nhà bắt đầu khởi công trong khi các đơn đặt hàng sắt gửi từ Pháp sang bị chậm trễ, kéo theo tiến độ hoàn thiện công trình cũng bị ảnh hưởng. Bộ Hải quân Pháp đã thay đổi các đơn đặt hàng gửi từ Sài Gòn, và chỉ ½ số sắt đặt hàng được gửi tới Bắc Kỳ. Sau nhiều lần khiếu nại, số còn lại mới được gửi tới Hà Nội, khi các tòa nhà đã hoàn thiện và đi vào sử dụng. Do thiếu sắt, Công binh trưởng chỉ huy công trường buộc phải điều chỉnh thiết kế của các công trình. Ví dụ như ở giữa phòng khách Tòa Công sứ (sau là Phủ Thống sứ), hai cột lớn bằng gạch được xây dựng để thay thế các dầm kim loại bị thiếu. Các cầu thang cũng bị thay đổi so với thiết kế ban đầu: những cấu kiện kim loại lắp ghép được chế tác tại Sài Gòn, chuyển ra Hải Phòng, nhưng trong quá trình vận chuyển từ Hải Phòng về Hà Nội, nhiều thuyền bị đắm trên sông Đuống nên chỉ một số rất ít vật liệu được trục vớt. Một số công trình nhà tầng được xây dựng sớm nhất trong nhượng địa cũng chịu chung số phận: 2/3 phần dưới cầu thang được xây bằng gạch, phần còn lại làm bằng gỗ. Trận bão năm 1881 đã cuốn đi phần gỗ của những cầu thang này. Dù một sĩ quan hải quân từng bao biện rằng đây là chủ ý của Công binh để có thể chặt đứt lối lên từ tầng trệt lên tầng trên trong trường hợp bị tấn công. Tuy nhiên, trong báo cáo chính thức, viên tiểu đoàn trưởng - Chỉ huy cấp cao quân Pháp ở Hà Nội lại đánh giá các công trình như thể được thi công bởi một nhân viên quèn.
Các tòa nhà trong khu nhượng địa được xây dựng làm doanh trại và khu làm việc của các sĩ quan, dinh Thống sứ, nhà ở của các tướng lĩnh và chỉ huy các đơn vị quân sự, dân sự đều được xây dựng theo đúng bản vẽ. Bảng quyết toán công trình lập năm 1885 cho thấy tổng chi phí xây dựng không vượt quá 700.000 francs. Mức chi phí thấp này chủ yếu nhờ giá nhân công rẻ (0,50 franc/ngày cho mọi loại lao động), trong khi Chánh Sở Công chính Nam Kỳ ước tính con số này phải lên đến 1.800.000 francs.
Toàn cảnh khu nhượng địa nhìn từ sông Hồng, với các tòa nhà được hoàn thành vào cuối năm 1876 trên diện tích 18 héc-ta. Từ trái qua phải: đồn lũy và doanh trại lính, nhà ở của sĩ quan, tòa nhà Công sứ và Ngân khố. Đây là những công trình được thiết kế theo phong cách châu Âu đầu tiên ở Bắc Kỳ, với viên Công sứ đầu tiên là bá tước - trung tá Hải quân Le Jumeau de Kergaradec. Nguồn: Emile Gsell, Humazur.
Hòa ước Giáp Thân 1884 và thành phố Hà Nội trở thành Nhượng địa của Pháp
Hòa ước Giáp Thân ký ngày 06/6/1884 mở đường cho quá trình thuộc địa hóa toàn diện Việt Nam, trong đó có Bắc Kỳ. Năm Đồng Khánh thứ ba ngày 26 tháng Tám (01/10/1888), vua Đồng Khánh ban hành Dụ số 567, được Toàn quyền Đông Dương chuẩn y ngày 03/10/1888, về việc lập các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng thành nhượng địa của Pháp. Mục đích của Dụ này là cụ thể hóa điều 18 của Hòa ước, quy định ranh giới các khu nhượng địa tại ba thành phố bằng các sơ đồ đính kèm.
Bản dịch sang tiếng Pháp của Dụ số 567 của vua Đồng Khánh. Nguồn: Hồ sơ 144, phông Tòa Thị chính Hà Nội, TTLTQG I
Theo điều 3 của Dụ số 567, thành phố Hà Nội và các vùng đất được nhượng cho Pháp “sẽ được xác định ranh giới theo các sơ đồ trong phụ lục; việc cắm mốc xác định diên cách của các khu nhượng địa này” do đại diện của Phủ Toàn quyền Đông Dương và Kinh lược Bắc Kỳ đảm trách; “các biên bản mô tả chính xác các vùng nhượng địa và ranh giới của chúng sẽ được lưu giữ tại cơ quan lưu trữ” của triều đình Huế và của Phủ Toàn quyền.
Từ một nhượng địa là mảnh đất rộng 18 héc-ta vào năm 1875, đến năm 1888, Pháp đã thâu tóm biến thành phố Hà Nội thành nhượng địa của họ. Những năm sau đó, các cơ quan thường trực của Pháp ở Bắc Kỳ nói chung và ở Hà Nội nói riêng dần chuyển thành bộ máy cai trị - chính quyền thuộc địa hoàn chỉnh, từng bước loại bỏ gần như hoàn toàn quyền hạn của chính phủ Nam triều đối với vùng đất này[2].
Đồn lính gác ở lối vào nhượng địa Hà Nội. Nguồn: Tạp chí Tour du Monde năm 1889
Lối vào chính của nhượng địa Hà Nội. Nguồn: Tạp chí Tour du Monde năm 1889
[1] Theo "Công binh Pháp ở Bắc Kỳ dưới chính quyền Hải Quân" (Le Service du génie au Tonkin sous l'administration de la Marine) của đại úy Louis. Kreitman, Paris, 1889.
[2] Tham khảo thêm các bài viết: https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/mo-rong-khu-nhuong-dia-ha-noi.htm và https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/ha-noi-thoi-can-dai-%E2%80%93-tu-nhuong-dia-den-thanh-pho.htm
Ngọc Nhàn