09:39 PM 22/10/2021  | 

Thời Pháp thuộc, tỉnh Nam Định có diện tích khoảng 155.585 ha (hơn 1550 km2) [1] nằm ở hạ du Đồng bằng sông Hồng. Giới hạn của tỉnh Nam Định như sau: phía Bắc là sông Lấp (Faux canal de Phủ Lý), sau có đập Hữu Bi chặn lại, giáp tỉnh Hà Nam; phía Nam là vịnh Bắc Bộ; phía Đông là sông Hồng phân giới hạn với tỉnh Thái Bình, phía Tây là sông Đáy, phân giới hạn với tỉnh Ninh Bình[2],[3].

Thời kì đó, Nam Định là một tỉnh đông dân nhất khu vực Đồng bằng Bắc Bộ với dân số lên đến 1.200.000 năm 1932 và 1.350.000 năm 1939. Nam Định trở thành nơi cung cấp nhân lực cho các mỏ than Hòn Gai, Tuyên Quang, Tĩnh Túc … cho Tân Đảo (Nouvelle Calédonie và Nouvelle Rébrides– đảo ở Nam Thái Bình Dương) và rất nhiều phu đồn điền cao su cho Nam Kì và Cao Miên.

Dù là tỉnh có kinh tế nông nghiệp chủ đạo nhưng Nam Định vẫn là một trong các trung tâm công nghiệp ở Bắc Kì. Với ưu thế có nguồn cung cấp nguyên liệu và nhân công dồi dào nên nhiều nhà máy đã được mở ở đây.

Bài 1: Các công ti nhà máy ở Nam Định

Ở Bắc Kì, sau hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng, Nam Định là thành phố có nhiều ngành kĩ nghệ. Nhiều công ti lớn được thành lập và hoạt động ở đây gồm:

  • Công ti Tơ lụa và Xuất khẩu Pháp – An Nam (SFATE)
  • Công ti Bông sợi Bắc Kì
  • Công ti Rượu Đông Dương (trụ sở ở Hà Nội), chi nhánh Nam Định
  • Công ti Thương Mại Á châu
  • Nhà máy Nước
  • Nhà máy Cưa
  • Nhà máy Điện

CÔNG TI RƯỢU ĐÔNG DƯƠNG

Công ti Rượu Đông Dương, trụ sở tại Hà Nội, có một nhà máy đặt tại Nam Định với hơn 400 công nhân. Nhà máy Rượu Nam Định được lập năm 1901 ở gần thành phố Nam Định.

(Con sông phía trước Nhà máy Rượu ở Nam Định. Nguồn sưu tầm)

CÔNG TI BÔNG BẮC KÌ

Công ti được thành lập năm 1900 với số vốn 1.500.00 francs, đến năm 1941, con số này tăng lên là 80.000.00 francs. Công ti được coi là một cơ sở quan trọng và hiện đại nhất trong số các cơ sở công nghiệp Pháp ở Viễn Đông. Trụ sở khi thành lập đặt tại Paris, có nhà máy ở Nam Định. Từ khoảng những năm 1920, trụ sở được chuyển đến Nam Định và có thêm nhà máy ở Hải Phòng, nhiều chi nhánh ở các thành phố lớn ở Đông Dương. Nhân sự gồm hơn 4 chục người Âu và hơn 13.000 người bản xứ. Công ti sử dụng 135.000 trục suốt và 1.400 máy công nghiệp với diện tích 8 ha.

Hoạt động chính của Công ti là kéo sợi bông thô. Công ti cũng dệt vải phục vụ nhu cầu tiêu thụ ở địa phương hoặc xuất khẩu. Số lượng lớn các cuộn sợi bông được xuất xưởng hàng năm để bán cho các thợ thủ công và cung cấp thường xuyên cho hơn 70.000 máy, trong đó 12.000 máy ở tỉnh Nam Định.

Ngoài ra, Công ti còn sản xuất bông gòn, gạc ý tế, chăn. Do vậy, công ti còn có các xưởng tẩy trắng và nhuộm màu vải. Công ti cũng có máy phát điện mà nguồn cung cấp nước riêng. Riêng đối với Nam Định, tổng số chi lương công nhân người Việt tính được là 1.350.000 đồng, nguồn thu mang lại cho thợ thủ công địa phương hàng năm là 600.000 đồng.[4]

Toàn cảnh Công ti Bông sợi Nam Định. Nguồn TTLTQG1

CÔNG TI TƠ LỤA XUẤT KHẨU PHÁP -ANNAM (SFATE)

Công ti sử dụng 9 kĩ thuật viên người Âu và 800 công nhân người bản xứ. Trong những năm 1930, Công ti là một điển hình về khả năng thích ứng tốt trong các điều kiện kinh tế và đáp ứng nhu cầu và sở thích của khách hàng trong nước và nước ngoài. Năm 1931, công ti bị ảnh hưởng bởi giá tơ sống tăng cao, phải tạm dừng sản xuất và chuyển hướng sang sản xuất các sản phẩm sa tanh. Một xưởng nhuộm và sản xuất đồ may sẵn cũng được mở vào thời điểm đó.

Đến năm 1939, Công ti lại sản xuất vải lụa bán ở Đông Dương, xuất khẩu chiếu và thảm sang Pháp. Sau đó, Công ti không xuất khẩu sang Pháp nữa mà chỉ cung cấp cho thị trường địa phương. Các xưởng làm bao tải sợi đay, xơ dừa và xưởng dệt Quy Phú được mở cửa lại. [5]

Công ti Tơ lụa Pháp (SFATE). Nguồn TTLTQG1

CÔNG TI THƯƠNG MẠI Á CHÂU

Thành lập năm 1923 tại khu đồn điền Pháp ở Quảng Châu, Công ti chuyển đến Nam Định năm 1928. Ban đầu, Công ti xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và thủ công địa phương sang châu Âu và châu Mỹ như: dầu và tinh dầu các loại, chiếu song, các sản phẩm mây tre đan.

Năm 1923, Công ti lập các xưởng dệt thảm gai, năm 1934, mở rộng sản xuất thảm lông cừu. Năm 1937, một xưởng nhuộm và một xưởng dệt công nghiệp được lập bổ sung vào các cơ sở của Công ti. Thời điểm này, Công ti sản xuất cả thảm len cho thị trường Mỹ.

Năm 1939, trước khi xảy ra Thế chiến thứ 2, Công ti có nghìn công nhân làm việc tại các xưởng ở Nam Định và tạo việc làm cho hơn 8.000 thợ thủ công ở các khu vực đông dân đồng bằng châu thổ Sông Hồng. Chiến tranh nổ ra, kể từ năm 1940, Công ti không còn xuất khẩu sang thị trường Âu và Mỹ nữa, phải sa thải phần lớn công nhân và dừng toàn bộ các đơn hàng thủ công. Công ti đã thực hiện ý tưởng sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường địa phương: sản xuất vải đóng gói và bao tải.[6]

Bên trong Công ti Thương mại Á châu. Nguồn. TTLTQG1

 

Nhà máy Nước Nam Định. Nguồn TTLTQG1

 


[1] Số liệu năm 1932

[2] RST 54766, TTLTQGI

[3] “Địa dư các tỉnh Bắc Kì” năm 1930

[4] Foire-exposition: Nam Dinh, ville & province, TTLTQG1

[5] Foire-exposition: Nam Dinh, ville & province, TTLTQG1

[6] Foire-exposition: Nam Dinh, ville & province, TTLTQG1

Đỗ Hoàng Anh