10:07 AM 16/08/2022  | 

Bài viết là những nỗi niềm trăn trở của một sinh viên chuyên ngành lưu trữ thập niên 1970-1980 trước ngưỡng cửa sự nghiệp.

Kho lưu trữ (Ảnh minh họa)

Chúng tôi tốt nghiệp ra trường, kết thúc bốn năm đèn sách (1976-1980) với bao nỗi phân vân sẽ làm gì và làm ở đâu?

Trong lớp đã có hai bạn do có điểm luận văn cao nên được nhận công tác ngay. Người thì được giữ lại làm giáo viên trong tổ bộ môn Lưu trữ, người thì được nhận vào làm việc ở Kho Lưu trữ Trung ương thuộc Cục Lưu trữ Phủ Thủ tướng. Số phận những sinh viên còn lại đang rất bấp bênh, ngoài các cử nhân trẻ phải nhập ngũ, tăng cường chất xám cho quân đội. Số còn lại phải tự chạy, tự lo... tôi cũng nằm trong số sinh viên đó. 

Lớp lưu trữ K.21 có 26 sinh viên. Phần lớn là bộ đội giải ngũ sau chiến tranh. Có 13 sinh viên có học lực khá được chọn viết luận văn, 13 người còn lại sẽ trải qua cuộc thi viết trên lớp. Tôi được chọn viết luận văn, đây là điều làm tôi thích thú vì có cơ hội trải nghiệm bảo vệ một đề tài khoa học trước hội đồng khoa học uy tín.

Đề tài luận văn của tôi nhận là một đề tài không dễ viết vì có vẻ khô khan, ít đất diễn: "Xây dựng khung phân loại thông tin tài liệu lưu trữ cho phông lưu trữ UBND thành phố Hà Nội". Đây là đề tài thuộc lĩnh vực công cụ tra cứu khoa học cho tài liệu lưu trữ ở các kho, các trung tâm lưu trữ. Về lý thuyết, sinh viên đã được trang bị đầy đủ. Phần tôi viết chỉ là phần thực hành trên một phông lưu trữ cụ thể và cuối cùng, đây chỉ là một bài tập cho sinh viên làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học sau khi ra trường tiếp tục công tác nghiên cứu của mình.

Cô Hương, một giáo viên tham gia giảng dạy một số chuyên đề ngày đó tỏ ra lo lắng cho tôi. Cô nói:

- Sao anh lại chọn đề tài khó vậy?

- Dạ thưa, Lớp trưởng đưa một tập 13 đề bài, các bạn đã nhanh tay chọn hết. Chỉ còn đề tài số 13 nằm lại trên mặt bàn, chính là là đề tài này. Vậy là em phải nhận nó và coi như số phận đã trao cho mình.

Bước đầu là việc thu thập các tài liệu liên quan đến khung phân loại tài liệu lưu trữ xem lịch sử của công tác này ra sao. Được biết ở Việt Nam lúc này (1980) các kho lưu trữ có từ thời thuộc địa Pháp vẫn đang sử dụng hệ thống phân loại của Paul Boudet (1). Khung phân loại này được lập năm 1917 khi thành lập Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương. Các thông tin trong khung phân loại này đã tỏ ra khá lạc hậu vì nó đã có hơn 60 năm tồn tại với biết bao biến cố trong giai đoạn này. Khung phân loại Paul Boudet chỉ áp dụng cho khối tại liệu các phông lưu trữ trước Cách mạng tháng Tám 1945. 

Tài liệu sau 1945 không còn sử dụng khung phân loại này nữa. Với tài liệu mới, hệ thống phân loại này không còn phù hợp. Tài liệu hình thành sau Cách mạng Tháng Tám 1945 vẫn chưa hình thành thống nhất từ các phông lưu trữ riêng lẻ đến các Kho lưu trữ tập trung.

Yêu cầu khi xây dựng công cụ tra cứu bao gồm:

- Phải cung cấp những thông tin chính xác về toàn bộ tài liệu, từ một tài liệu rời lẻ đến toàn bộ Phông lưu trữ.

- Phải áp dụng được cho các loại hình tài liệu, trên các vật mang tin khác nhau. 

- Phải xây dựng khung phân loại theo một phương pháp thống nhất về hình thức và nội dung cho mỗi loại cùng hệ thống, tiến tới chuẩn hoá khổ mẫu.

- Phải đảm bảo tìm tin trên nhiều mặt, nhiều khía cạnh và nội dung khác nhau.

- Phải đáp ứng việc tra tìm, lựa chọn và tập hợp tài liệu nhanh chóng theo yêu cầu của người sử dụng, chỉ dẫn chính xác địa chỉ của từng hồ sơ tài liệu trong kho lưu trữ.

- Yêu cầu tối cần thiết khi xây dựng khung phân loại thông tin là, phải xây dựng một hệ thống ký hiệu phù hợp đảm bảo sao cho trong thời gian dài (ít nhất 70 năm) khung phân loại không bị phá vỡ do sự bùng nổ thông tin trong tương lai. Sẽ có những nội dung mới được phản ánh trong tài liệu lưu trữ, nếu không tìm hiểu, xem xét xu hướng phát triển của xã hội thì thật bất cập cho việc sắp xếp, phân loại tài liệu lưu trữ.

Hoạt động sản sinh tài liệu ở thủ đô Hà Nội không khác gì một quốc gia thu nhỏ. Tuy nhiên nó có những đặc thù riêng phải tính toán đến. Ngoài những lĩnh vực chung liên quan đến các hoạt động chính trị - xã hội ra, là những hoạt động của các ngành kinh tể địa phương như Công nghiệp, Nông nghiệp, Giao thông vận tải...

Việc mở rộng địa giới Hà Nội năm 1978 (2) chắc chắn sẽ sản sinh khối tài liệu về việc chăm sóc rừng nguyên sinh ở Ba Vì, Sóc Sơn, Bất Bạt, Sơn Tây, chưa kể phải trồng mới rừng phòng hộ để chắn bão phá hoại mùa màng...

Từ những căn cứ và suy luận trên, tôi quyết định bổ sung vào khung phân loại Phông lưu trữ Hà Nội đề mục LÂM NGHIỆP với các đề mục con là: Bảo vệ rừng; Trồng và chăm sóc rừng, lấy cho đề mục này một số ký hiệu cố định trong khung phân loại. 

Rồi cuối cùng luận văn của tôi cũng được viết xong. Nhìn chung cũng khá đầy đặn về số lượng, tôi hoàn toàn hài lòng về nội dung trình bày trong luận văn của mình. 

Ngày bảo vệ rồi cũng tới. Cuối tháng 7 ở Hà Nội khá nóng nực, sáng sớm nắng đã chói chang, các cửa sổ phòng học đều mở hết để đón gió trời... Nhìn vẻ đạo mạo, uy nghiêm của các thày cô giáo và của Phó Cục trưởng Cục Lưu trữ Vũ Dương Hoan trong bộ com lê màu sáng làm tôi hồi hộp hơn bình thường. Tôi bảo vệ cuối ngày vì vần V tôi mang khi nào cũng xếp cuối cùng trong danh sách các cuộc thi.

Sau phần tóm tắt những quan điểm chính của luận án do tôi trình bày trước Hội đồng là đến phần nhận xét của thày hướng dẫn, mọi việc đều diễn ra tốt đẹp. Thầy hướng dẫn không đánh giá cao những đóng góp mới trong luận án của tôi nhưng với phần tôi viết và trình bày thầy cho là ổn.

Hội đồng chuyển sang phần thảo luận. Giáo viên phản biện của tôi là một cán bộ trẻ vừa tốt nghiệp Trường Đại học Lưu trữ Lịch sử Moskva về, hơn tôi chừng 2 tuổi. Linh cảm báo cho tôi biết có điều gì đó không ổn khi người cho điểm luận văn này lại không phải là người có kiến thức sâu về chuyên môn xây dựng khung phân loại lưu trữ.

Quả nhiên, thầy phản biện ra đòn phủ đầu làm cho tôi và thậm chí cả thầy hướng dẫn đều choáng. Thầy nói ngắn đủ để phủ nhận hoàn toàn công sức của tôi khi tôi đã tập trung toàn tâm, toàn ý để viết luận văn tốt nghiệp. Thầy nói:

- Luận văn của anh (V) đã đi ngược lại các nghị quyết của Đảng và Nhà nước về xây dựng thủ đô trong tương lai. Khi anh đưa ngành Lâm nghiệp vào khung phân loại với lý giải Hà Nội trong tương lai sẽ sản sinh loại hình tài liệu này trong quá trình mở rộng địa giới về phía Tây và Tây Bắc là không đúng. Không có thủ đô nào phát triển Lâm nghiệp cả, nhất là với thủ đô Hà Nội. Nếu không vì anh có quá trình chiến đấu trong quân ngũ, anh lại là cấp uỷ kiêm Bí thư Chi đoàn Thanh niên thì luận văn này chỉ có điểm trung bình (5), tôi đề nghị Hội đồng cho điểm bẩy (7).

Sau nhận xét đó, không có thêm ý kiến nào nữa bởi cái nóng bức mùa hè làm cho ai cũng uể oải, mệt mỏi và chỉ mong kết thúc sớm buổi bảo vệ ở đây.

Vậy đây là luận án khoa học vớt! Tôi hoàn toàn ấm ức vì đáng lẽ mình phải được phát biểu để  bảo vệ luận cứ khoa học của mình.

Thày hướng dẫn ghé tai tôi hỏi:

- Cậu viết cái ấy vào lúc nào vậy? (Có nghĩa là thầy chưa đọc kỹ luận văn của học trò mình!) và đồng tình với ý kiến phản biện!

Vậy là Hội đồng chốt danh sách điểm thi. Điểm thấp nhất chính là điểm 7 của tôi hôm nay! Không trượt là may rồi, tôi tự động viên mình như vậy. Trước mắt vẫn là câu hỏi: Làm gì? Ở đâu? Tương lai sẽ thế nào? Tất cả đều vô định!

Nhận kết quả cay đắng đó, tôi vô cùng ấm ức. Để tiếp tục bảo vệ mình, tôi đã tìm đến Viện Quy hoạch Rừng của Bộ Lâm nghiệp. Giáo sư, Tiến sỹ Võ Trí Chung, Viện trưởng hứa sẽ sẵn sàng đứng ra bảo vệ luận điểm khoa học của tôi. Tôi viết bài tranh luận trên Tạp chí Văn thư - Lưu trữ nhưng không được phép đăng vì tạp chí chuyên ngành không có bút chiến, không có luận chiến!

Vậy là phải ngậm đắng nuốt cay cho đến tận bây giờ khi tôi đang viết những dòng cảm xúc nghề nghiệp này.

Rồi cuối cùng dịp may cũng đã đến với tôi vào phút tôi tuyệt vọng nhất: Tôi có giấy báo được Cục Lưu trữ Phủ Thủ tướng tiếp nhận vào làm việc. Tôi được phân công về làm việc ở Phòng Khai thác Kho lưu trữ TW Hà Nội (Nay là Trung tâm Lưu trữ quốc gia I Hà Nội).

Số tôi nó vậy, cứ gần chết thì lại được cứu sống!

------------------------------------------------

Ghi chú:

1-Paul Boudet sinh ngày 18-7-1888 tại Mende (Lozère-Paris ), mất ngày 10-12-1948 tại Val de Grâce-Paris. Ông bắt đầu học tại Trường Pháp điển (Ecole Nationale des Chartes) vào năm 1909 và trở thành Lưu trữ viên - Cổ tự năm 1914; thành viên hưởng trợ cấp (pensionnaire) của Trường Viễn đông Bác cổ Pháp (Ecole Française d’Extrême-Orient (EFEO) năm 1917; được EFEO phái sang Đông Dương nghiên cứu để thành lập một tổ chức Lưu trữ và Thư viện tại xứ thuộc địa này.

(2)-Ngày 29 tháng 12 năm 1978, Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn mở rộng địa giới Hà Nội, sáp nhập thêm 5 huyện Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức và thị xã Sơn Tây, 2 xã Phụng Châu, Tiên Phương thuộc huyện Chương Mỹ, 7 xã: Tam Hiệp, Hiệp Thuận, Liên Hiệp, Cộng Hòa, Tân Hòa, Tân Phú, Đại Thành thuộc huyện Quốc ...Ngoài ra còn một số huyện, thị xã và thị trấn của tỉnh Hà Sơn Bình (cũ) và tỉnh Vĩnh Phúc sáp nhập vào Hà Nội.

Nguyễn Xuân Vượng