12:31 AM 24/04/2026  | 

Giữa vùng trung du Phú Thọ, đồi Cổ Tích, nơi thờ các vị vua Hùng, từ lâu được xem là cội nguồn huyền thoại của dân tộc Việt Nam. Trong bài viết đăng trên Tuần san Indochine số 88 ngày 07/5/1942, Jean François đã ghi lại không khí lễ hội Đền Hùng cùng những truyền thuyết quen thuộc như: Con Rồng cháu Tiên, Sơn Tinh - Thủy Tinh hay Mỵ Châu - Trọng Thủy. Chính những truyền thuyết này đã góp phần hình thành ký ức lịch sử và bồi đắp bản sắc văn hóa của người Việt. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc.

Trên tuyến đường dẫn tới đồi Cổ Tích. Hình ảnh minh họa của Mạnh Quỳnh trên báo gốc

Chúng ta đều biết trí tưởng tượng của người An Nam có khuynh hướng ưa chuộng điều kỳ ảo - đã thêu dệt trên khoảng trống của lịch sử những truyền thuyết thú vị, được truyền miệng từ đời này qua đời khác, dần dần chúng được xem như sự thật hiển nhiên và cuối cùng được chính các sử quan nghiêm cẩn của vương quốc chấp nhận.

Dưới chân đồi. Hình ảnh minh họa của Mạnh Quỳnh trên báo gốc

Chẳng hạn như phần lớn lịch sử thời Hồng Bàng - triều đại đầu tiên của Việt Nam, được cho là tồn tại từ năm 2879 đến năm 258 TCN. Triều đại này gồm 18 đời vua Hùng, đóng đô tại Phong Châu (nay [năm 1942 - ND] là Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên[1]) và cai trị nước Văn Lang huyền thoại […].

Chính vùng đất Phú Thọ - Việt Trì và Vĩnh Yên được xem là cái nôi của nước Việt Nam ngày nay. Và để nhắc nhớ cội nguồn huyền thoại đó, trên ngọn đồi bao quát toàn vùng thuộc địa phận làng Cổ Tích, người dân đã dựng đền thờ Vua Hùng, nơi hàng năm các quan lại tỉnh Phú Thọ cử hành nghi lễ dâng hương tưởng nhớ, thu hút đông đảo khách hành hương.

Lăng vua. Hình ảnh minh họa của Mạnh Quỳnh trên báo gốc

Ca dao có câu:

“Mồng mười tháng ba

Có đi giỗ Tổ mới là người Nam”.

Nơi cử hành các nghi lễ ấy vốn khá nổi tiếng. Tọa lạc giữa miền trung du Bắc Kỳ - nơi thảm thực vật xanh thẫm và những dải đồi thoai thoải như báo hiệu, qua một bước chuyển hài hòa, cánh rừng xanh và núi non hùng vĩ của vùng thượng lưu sông Hồng - ngọn đồi Cổ Tích vươn cao giữa cánh đồng lúa và các gò đồi, với vẻ trang nghiêm dường như ý thức được những di tích mà nó gìn giữ. Từ đền Thượng, ta có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh hùng tráng: kia là sông Hồng, trái với tên gọi của mình, lặng lẽ trải dài như một dải lụa xanh thẫm, xa xa là núi Tản Viên (núi Ba Vì) nổi tiếng với đường nét mờ dần trong làn sương lam nhạt, bên trái là dãy Tam Đảo in thành vệt đen trên đường chân trời. Dưới chân đồi là vô số gò đất hình nón cụt - dáng vẻ gợi nên tên gọi “mâm xôi”, thứ lễ vật quen thuộc trong nghi thức cúng tế của người An Nam.

[…]. Giống như các cuộc hành hương khác, cuộc hành hương này thu hút đông đảo du khách thập phương, họ nô nức kéo nhau lên đồi trong bầu không khí hân hoan, rộn ràng. Những trò đánh đu tiên, ca hát và trò chơi của đoàn Hướng đạo sinh Hùng Thao đến cắm trại dưới chân đồi, hát xoan, những cuộc hát đối nam nữ gợi nhớ quan họ ở Lim… tất cả đều góp phần làm say lòng khách thập phương. Khi chiều buông, niềm vui ấy nhường chỗ cho sự chăm chú say mê, khi cả già lẫn trẻ cùng lắng nghe những truyền thuyết được các bậc cao niên kể lại một cách thích thú.

Trò đánh đu tiên. Hình ảnh minh họa của Mạnh Quỳnh trên báo gốc

Sau đây là những truyền thuyết quen thuộc nhất:

Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên

Một trong những vị vua Hùng đầu tiên thuộc dòng dõi Rồng, tên là Lạc Long Quân kết duyên với nàng Âu Cơ thuộc dòng dõi Thần tiên. Nàng sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành một trăm người con đẹp như thiên thần. Một ngày, nhà vua nói với hoàng hậu rằng: “Ta vốn nòi Rồng, phải trở về biển. Chúng ta hãy chia đôi đàn con rồi chia tay.” Năm mươi người con theo cha xuống phương Nam, về với biển; năm mươi người còn lại ở cùng mẹ.

Truyền thuyết này đặc biệt thú vị vì theo cách nhìn của người An Nam, nó lý giải lối sống của họ và lý do của quá trình Nam tiến. Ngoài ra, nó còn làm sáng tỏ nhiều cách diễn đạt mang tính thơ ca hoặc dân gian vẫn hay dùng. Người An Nam thường tự xưng là “trăm họ” - cách nói mà theo một số người, bắt nguồn từ chính câu chuyện này. Một trăm người con của Âu Cơ lập nên một trăm gia đình, dần dần sinh sôi nảy nở thành dân tộc Việt Nam. Người An Nam còn tự gọi mình là “con cháu Long Tiên”, theo ngôn ngữ văn chương. Cụm từ này xuất hiện trong nhiều bài thơ, đặc biệt ca khúc Đăng đàn cung, quốc ca An Nam. Tương tự, cách gọi “Âu Lạc” (hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ) đôi khi cũng được các thi sĩ dùng để chỉ dân tộc An Nam.

Truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh

Vị vua Hùng thứ 18 có một người con gái tuyệt sắc, được hai vị thần cầu hôn: Thần Núi (Sơn Tinh) và Thần Nước (Thủy Tinh). Hai bên đều xứng đáng, khiến nhà vua lúng túng, cuối cùng, nhà vua hứa gả công chúa cho ai mang đủ lễ vật đến trước vào sáng hôm sau. Sơn Tinh đến trước, trở thành phò mã và đưa công chúa về núi. Thủy Tinh phẫn nộ vì thất bại, liền dâng nước lên định nhấn chìm đối thủ nhưng Sơn Tinh đã ở trên đỉnh núi Tản Viên, bình thản nhìn những nỗ lực vô ích ấy. Lòng hận thù ở vùng đất Á Đông vốn dai dẳng: hàng năm, hai vị thần lại giao chiến dữ dội, và người nông dân bất hạnh phải gánh chịu mọi tổn thất[2]. Người An Nam giải thích sự xuất hiện của những cơn bão tàn phá ven biển Đông là vì lý do như vậy.

Truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy

An Dương Vương, vị vua được dân chúng yêu mến vì sự sáng suốt và hiền hòa, đã nhiều lần đẩy lùi các cuộc xâm lược của tướng Triệu Đà nhờ chiếc móng của thần Kim Quy (dùng làm lẫy nỏ - ND). Khi đặt vào nỏ, móng thần giúp nhà vua tiêu diệt một lần cả vạn tên địch. Tuyệt vọng vì không thể lấy được thứ vũ khí diệu kỳ đó, Triệu Đà bèn dùng mưu cầu hòa, và An Dương Vương vốn cả tin nên đã chấp thuận. Để chứng tỏ thiện chí, Triệu Đà sai con trai là Trọng Thủy sang Âu Lạc cầu thân. Chàng hoàng tử tuấn tú nhanh chóng chiếm được cảm tình của công chúa Mỵ Châu. Hai người thành hôn trong niềm vui của hai dân tộc tưởng đã hòa giải. Nhưng giữa hạnh phúc lứa đôi, Trọng Thủy không quên bổn phận làm con và làm thần dân: phụ vương chàng đã dặn phải đánh cắp móng thần. Dù phải lừa dối người vợ quá tin yêu mình, chàng vẫn quyết thực hiện. Sau khi lấy được bảo vật, chàng viện cớ muốn về thăm phụ vương để rời khỏi vương quốc Âu Lạc.

Trước lúc chia tay, Trọng Thủy nói với Mỵ Châu:

“Công chúa yêu quý của ta, nếu chẳng may hai nước lâm vào chiến tranh, làm sao ta tìm lại được nàng?”

Mỵ Châu buồn rầu đáp:

“Thiếp sẽ rắc lông ngỗng dọc đường, chàng cứ theo đó mà tìm”.

Nhờ có móng thần, Triệu Đà dễ dàng chiếm được vương quốc Âu Lạc. An Dương Vương, chợt bừng tỉnh giữa yến tiệc, bàng hoàng khi nhận ra nỏ thần mất linh nghiệm, vội vã lên ngựa đưa Mỵ Châu chạy trốn. Khi đến bờ biển, nhà vua gặp thần Kim Quy. Thần nổi giận, tố công chúa phản bội. An Dương Vương liền giết chết Mỵ Châu rồi lao mình xuống biển.

Trong khi đó, dẫn đầu đạo quân chiến thắng, Trọng Thủy lần theo dấu lông ngỗng đi tìm vợ. Một cảnh tượng đau đớn chờ chàng nơi bờ biển: người vợ yêu dấu nằm bất động trên bãi cát, giữa vũng máu. Ân hận khôn nguôi, chàng mang thi hài nàng về Loa Thành an táng rồi gieo mình xuống giếng. Chàng đã hy sinh hạnh phúc riêng vì tham vọng của phụ vương. Từ đó, giếng Loa Thành được cho là có phép lạ: những viên ngọc rửa bằng nước giếng ấy sẽ lấp lánh khác thường.

Đó là tấn bi kịch tình yêu trong sáng mà bi thương, diễn ra vào buổi đầu dựng nước. Các sử gia tìm trong đó lời biện minh cho An Dương Vương bất hạnh, người đã mất cả ngai vàng lẫn mạng sống; còn dân gian, giàu cảm xúc hơn, lại thương khóc hình bóng công chúa Mỵ Châu, nạn nhân của tình yêu vợ chồng và chàng hoàng tử Trọng Thủy bất hạnh, nạn nhân của chữ hiếu[3].

Đó là những câu chuyện đẹp từ thuở xa xưa, được kể lại hàng năm trên ngọn đồi Cổ Tích vào ngày mồng 10 tháng Ba âm lịch mà hầu như không một người An Nam nào là không thuộc lòng từ thuở ấu thơ. Nhưng ở xứ An Nam, mỗi khi câu chuyện được kể lại, ai nấy đều say sưa lắng nghe.

 

 

[1] Ngày 12 tháng 2 năm 1950, tỉnh Vĩnh Yên hợp nhất với tỉnh Phúc Yên thành tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó, tỉnh Vĩnh Yên không còn tồn tại. Địa giới hành chính tỉnh ngày nay tương ứng với tỉnh Vĩnh Phúc cũ sau khi sáp nhập vào tỉnh Phú Thọ, theo https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%A9nh_Y%C3%AAn_(t%E1%BB%89nh)

[2] Theo Nguyễn Quý Hưng.

[3] Theo Nguyễn Quý Hưng

Hoàng Hằng