11:15 PM 10/02/2026  | 

Dân gian có phong tục mời gia tiên về ăn Tết thì triều đình phong kiến xưa có lễ Hợp hưởng. Lễ Hợp hưởng là nghi lễ thỉnh vong linh các vị Tiên Đế về hưởng Tết với triều đình, cũng là để báo cáo tiền nhân những việc đã làm trong năm qua.

Lễ Hợp hưởng là một trong Ngũ hưởng, trong đó Tứ hưởng là các lễ tế hưởng thuộc bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông (Xuân hưởng, Thu hưởng, Hạ hưởng, Đông hưởng) và Hợp hưởng là lễ cuối năm, thường vào tháng Chạp.

Thời vua Gia Long, các lễ tế hưởng đều vào ngày mồng 1 các tháng của đầu mỗi mùa. Như lễ Hạ hưởng vào ngày mồng 1 tháng 4, lễ Thu hưởng vào ngày mồng 1 tháng 7, lễ Đông hưởng vào ngày mồng 1 tháng 10. Nhà vua đích thân làm lễ ở Thái miếu (thờ các chúa Nguyễn).

Thời vua Minh Mạng, định lại lệ tế ở các miếu. Vào những năm Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Hợi, nhà vua thân đến Thái miếu; vào những năm Tý, Dần, Ngọ, Thân, Tuất, nhà vua thân đến Thế miếu (thờ các vị vua Nguyễn, bắt đầu từ vua Gia Long) làm chủ lễ.

Triều Thiệu Trị vẫn tuân theo lệ này. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843- năm Quý Mão), nhà vua đích thân đến Thái miếu hành lễ, bản Tấu của quan trực ban Tôn Thất Bật ngày 29 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 3, cho biết “Buổi sáng hôm nay có lễ Hợp hưởng ở các miếu, Hoàng Thượng kính đến Thái miếu làm lễ”[1].

Theo quy định, các thân công, hoàng tử, quan đại thần đến tế ở Triệu miếu (thờ chúa Nguyễn Kim) Hưng miếu (thờ chúa Nguyễn Phúc Luân), lăng tẩm, cung điện nhưng cũng có năm thay mặt vua thừa tế ở Thái miếu, Thế miếu. Châu bản triều Minh Mạng ghi chép rằng “Nội các tâu: Theo tấu trình của bộ Lễ, nay có lễ Hợp hưởng, theo lệ có lệnh quan quyền (thay mặt Vua) đến tế và thừa tế. Cung nghĩ phụng chỉ: Khải miếu, Hưng miếu, Thế miếu nay phái Kiến An công Hạo, Bàn công Phổ Hoàng Tử Thọ Xuân Công Miên Định thay mặt tế. Bốn bàn tế Tả nhất, Hữu nhất, Tả Nhị, Hữu Nhị thuộc Thái miếu nay phái Diên Khánh Công Tấn, Thường Tín Công Cự, Hoảng Tử Miên Thẩm, Hoàng Tử Miên Trinh thừa tế. Bốn bài vị Tả tam, Hữu tam, Tả Tứ, Hữu tứ nay phái Nguyễn Khoa Minh, Trương Đăng Quế. Nguyễn Tăng Minh, Tôn Thất Bằng thừa tế. Tất thảy kính cẩn hành lễ…”[2].

 Bản tấu của Nội các ngày 11 tháng 12 năm Minh Mạng 14 (1833) về việc cử các Hoàng tử, các quan đại thần thừa tế trong lễ Hợp hưởng ở Khải miếu, Hưng miếu, Thế miếu và Thái miếu. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn

Châu bản triều Thiệu Trị “…Nay truyền lấy ngày 25 cử hành lễ Hợp hưởng tại cung Từ Thọ. Nhưng truyền phái Hoàng tử Kiến Thụy công Hồng Y khâm mệnh kính cẩn làm lễ. Lại phái Hoàng tử Hoàng Trị Quận công Hồng Tố đến điện Gia Thành kính cẩn làm lễ. Còn lễ Hợp hưởng tại các miếu truyền theo như lệ trước để thực hiện …”[3]

Triều Tự Đức vẫn tuân theo quy định trước nhưng có phần kĩ càng hơn. Bản tấu của bộ Lễ ngày mồng 7 tháng 10 năm Tự Đức 23 (1870) cho biết, lễ Hợp hưởng tuyển chọn quan viên đọc chúc văn, không chỉ thông văn tự mà còn có giọng đọc trong trẻo, rõ ràng “….Từ nay về sau, hàng năm có các lễ tiết Ngũ hưởng, lễ giỗ kỵ, trừ lễ nào vâng phụng Hoàng Thượng đến làm lễ, theo lệ do đường quan của Bộ cung kính hướng dẫn các ấn quan của các nha tuyên đọc và lễ nào tư cho các nha, phái thuộc viên Tứ, Ngũ phẩm sung đọc chúc văn, tuân theo lệ trước ra, còn nếu gặp các lễ Hợp hưởng, giỗ kỵ nào cung hầu đọc chúc văn do Bộ thần phái thuộc sung đọc, xin căn cứ theo số Lang trung, Viên Ngoại lang thuộc Bộ để phái cử, còn lúc làm lễ nếu thiếu người nghĩ nên chọn phái viên Chủ sự nào, có âm tiếng trong trẻo rõ ràng, am hiểu lễ tiết phụng sung chờ đọc…”[4]

Ngày 22 tháng Chạp hàng năm, vua Nguyễn đích thân đến Thái Miếu hoặc Thế miếu làm chủ lễ; các hoàng tử, thân công, quan đại thần tế tự trong các miếu điện, lăng tẩm thuộc Kinh thành. Vua quan đồng lòng thành kính ghi nhớ công ơn tổ tiên và thỉnh mời vong linh các bậc Tiên đế về hưởng Tết cùng hoàng tộc. Tuy nhiên vào năm Thành Thái 18 (1906) có quốc tang nên bộ Lễ dâng bản tấu lên nhà vua xin dời ngày lễ Hợp hưởng sang mồng 10 kèm lời khẩn cáo “Bộ Lễ tâu: Vâng xét lệ trước đây vào ngày 22 tháng 12 hàng năm có làm lễ Hợp hưởng tại các miếu. Năm nay do có quốc tang, ngày hôm đó lại gần ngày đưa linh giá, nếu như lễ Hợp hưởng vẫn theo lệ lấy ngày đó làm lễ, e rằng không kịp. Bộ thần đã tra hội điển có ghi các khoản, vậy xin tuân theo như lệ năm Thiệu Trị 5 để thực hiện và đã trình quan đại thần viện Cơ mật xét duyệt. Nếu như được phê chuẩn, xin nhân ngày lễ vọng tháng này do quan từ tế đem việc đó khẩn cáo tại các miếu. (Khẩn cáo rằng lễ Hợp hưởng nay vì gần với kỳ lễ quốc tang, xin cử hành trước vào ngày mồng 10) để tiện cử hành”[5]

            Lễ Hợp hưởng là một nghi lễ đón Tết có nét tương đồng giữa Tết của triều đình và Tết dân gian, bởi dù là bậc Đế vương hay thường dân nhưng lòng thành kính tổ tiên, đạo lý uống nước nhớ nguồn vẫn là phẩm chất được đề cao.

 

[1] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, tập 26, tờ số 248, Thiệu Trị

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, tập 50, tờ số 270, Minh Mạng

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, tập 33, tờ số 407, Thiệu Trị

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, tập 231, Tờ số 23, Tự Đức

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, tập 67, tờ số 136, Thành Thái

Hải Yến