10:03 PM 12/02/2026  | 

Tết Nguyên đán là lễ lớn trong năm, mọi công việc tạm ngưng nên ấn triện của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương đều được niêm phong, tạm thời cất đi để đón mừng năm mới. Vào hạ tuần tháng Chạp hàng năm, Khâm thiên giám nhà Nguyễn chọn ngày tốt làm lễ Phong ấn 封印 và trình lên Vua chấp thuận để thi hành khắp cả nước.

Sử sách triều Nguyễn cho biết, lễ Phong ấn được bắt đầu từ “ngày Nhâm tuất tháng 12 năm Gia Long thứ 1 (1802) phong ấn (mỗi năm lấy ngày 25 tháng Chạp thì phong ấn, sang năm chọn ngày tốt vào thượng tuần tháng Giêng khai ấn. Ở các Nha cũng lấy những ngày ấy phong hay khai ấn triện)[1]. Châu bản triều Nguyễn còn ghi lại vào ngày mồng 7 tháng Mười một năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), Khâm thiên giám tâu xin “chọn ngày giờ tốt để phong, mở ấn theo lệ vào giờ Tân mão, Tân mão ngày 24 tháng Mười hai năm nay, đúng ngày nguyệt đức hợp cát kì, giờ Minh đường hoàng đạo các nha vệ ở trong, ngoài Kinh đều tiến hành phong ấn; giờ Bính Ngọ, Tân Mão ngày 9 tháng Giêng sang năm gặp ngày Thiên đức thời đức, giờ Ngọc đường hoàng đạo là ngày mở ấn, đều là hiệp cát. Cẩn tấu[2].

 

Ngày Nhâm tuất tháng 12 năm Gia Long thứ 1 (1802) nhà Nguyễn chọn ngày phong ấn, khai ấn

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục chính biên, Đệ nhất kỉ, quyển 19, trang 18.

 

 

Bản tấu ngày mồng 7 tháng Mười một năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) của Khâm thiên giám về việc chọn ngày giờ tốt để phong, mở ấn.
TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập số 74, tờ số 39

Trong thời gian phong ấn, nếu có việc khẩn cần giải quyết, triều đình cho phép các nha môn và viên chức từ trung ương đến địa phương được đóng sẵn dấu trên một số giấy tờ trắng (khống chỉ) trước khi tiến hành niêm phong con dấu. Chờ đến ngày khai ấn vào tháng Giêng năm tới, số đã chi dùng bao nhiêu, số còn lại là bao nhiêu, sẽ tập hợp liệt kê và xin tiêu hủy. Châu bản triều Thiệu Trị, ngày mồng 9 tháng Giêng năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), Viện Cơ mật tâu “xin tiêu hủy số lượng giấy đóng dấu sẵn ở Viện chi dùng còn bao nhiêu. Ngày 22 tháng Mười hai năm ngoái phụng chỉ: Chuẩn cho các nha môn ở trong và ngoài Kinh, đều tiến hành niêm phong ấn triện. Lần ấy, chúng thần trộm xét ấn Viện quan trọng, đã làm tập tâu xin dự định đóng dấu 30 tờ giấy lưu không để chuẩn bị sử dụng, chờ ngày mở ấn, xem xét số lượng sử dụng là bao nhiêu ? Còn lại là bao nhiêu ? Sẽ đề đạt xin tiêu huỷ. Vâng châu phê: Được. Khâm thử. Chúng thần đóng dấu theo số dự sẵn. Nay xét thấy từ hôm đó tới nay, có làm tờ truyền thị và tờ tư sao lục cho 2 tỉnh Định Tường, An Giang. 4 tờ phát cho Bộ Lại tư cho Bộ Binh phát truyền thị này; phát 4 tờ hồng bản phụng thượng dụ, gồm 8 tờ. Dùng 9 tờ giấy lưu không xin cho khai tiêu, còn dư thừa 21 tờ xin cho huỷ bỏ, để tỏ rõ sự thận trọng. Vậy dám làm tập tâu đầy đủ, chờ Thánh chỉ. Cẩn tấu[3].

Năm 1833, khi Lê Văn Khôi nổi loạn ở miền Nam, tình hình quân sự ở sáu tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên đều diễn ra căng thẳng, Vua Minh Mệnh đã cho phép các Tướng lĩnh chỉ huy ở quân thứ, các quan lại, binh lính ở địa phương không cần câu nệ vào lệ phong ấn và khai ấn. Nội các triều Nguyễn phụng thượng dụ vào ngày 12 tháng Mười hai năm Minh Mệnh thứ 14 (1833): “Gần đây căn cứ Khâm thiên giám tuân lệ chọn ngày phong ấn vào cuối năm và mở ấn vào mùa Xuân tới. Chúng thần đã gửi đi các Nha môn trong Kinh và ngoài các tỉnh tuân phụng rồi. Vả lại, từ xưa đến nay trăm quan theo lệ, có phong ấn và mở ấn, nhưng đó là trình tâu lúc bình thường vô sự, nếu trong lúc có việc quân lữ thì không thể cứng nhắc vin theo lệ này được. Nay xứ Nam kì gặp lúc việc binh ở biên cương chưa xong, mọi công việc nên làm đều là trọng yếu cả. Nay truyền chỉ cho các Tướng quân, Tham tán ở quân thứ cùng với Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính và Án sát các địa phương và quan Nha, binh lính ở 6 tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên, lần này không phải câu nệ vào ngày phong ấn và mở ấn. Phàm những ấn triện quan phòng và đồ kí đã cấp từ trước đều cho cứ giữ lại để sử dụng, bất tất phải dùng giấy lưu không để trắng sẵn hoặc phòng khi phải tấu báo kịp thời, việc quân sai phái phức tạp mà giấy dự trữ không đủ vận chuyển càng bất tiện. Bộ thần lập tức tuân theo dụ thi hành. Khâm thử[4].

Sau lễ Phong ấn, nhà Vua và các quan nghỉ Tết. Đầu năm mới, sau khi làm lễ Khai ấn, các công việc mới được tiếp tục trở lại.

 

 

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 1, NXB Giáo dục, H, 2007,  tr. 576.

[2] TTLTQG 1, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập số 74, tờ số 39.

[3] TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập số 19, tờ số 55.

[4] TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập số 50, tờ số 297.

Thu Thủy