05:37 PM 26/08/2026  | 

Lễ Thu hưởng là lễ tế Hưởng vào đầu mùa thu, nhằm ngày mồng Một tháng Bảy âm lịch hàng năm. Lễ Thu hưởng là một trong bốn lễ tế Hưởng được xếp vào bậc Đại tự trong hệ thống tế lễ triều Nguyễn.

 

Triều đình quy định đối với các lễ Đại tự và Trung tự, chủ tế là Vua và các Thân tôn, Hoàng tử và quan lại. Lễ Hưởng ở các tôn miếu, mùa xuân và mùa thu ở Thái miếu, mùa hạ và mùa đông ở Thế miếu. Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ chép rằng “Gia Long năm thứ 6 (1807) ban sắc Dụ: từ nay những lễ tế các tôn miếu, các Hoàng tử, Hoàng tôn đều theo thứ tự thay Vua làm chủ tế và bồi tế. Năm thứ 15 (1816), ban sắc Dụ: từ nay Hoàng tử, Hoàng tôn thay Vua làm chủ tế lâu dài. Minh Mệnh năm thứ 13 (1832), Dụ rằng: hàng năm kính gặp 5 ngày làm lễ miếu hưởng, cùng Tết nguyên đán, Tết Đoan dương, lệ trước các bàn thờ phụ ở Thái miếu, Thế miếu, đến tuần phân hiến, thì bên Tả vu dùng quan văn, bên Hữu vu dùng quan võ. Nay cho đổi định, phàm các ban thờ các quan Thân huân đều dùng các quan chức trong Tôn thất cho hợp sự thể…”[1]

Tế tự là việc trọng đại của triều đình nên mọi cơ quan đều được huy động tham gia chuẩn bị và tiến hành nghi lễ. Triều Nguyễn quy định cụ thể công việc đối với Lục Bộ (quan trọng nhất là Bộ Lễ) và tất cả các Phủ, Ty, đặc biệt là Phủ Tôn nhân, Viện Tập hiền, Ty Điển nghi, Thái Thường tự, Quang Lộc tự…Ngày 25 tháng 6 năm Minh Mệnh 19 (1838), để chuẩn bị cho lễ Thu hưởng, Bộ Lễ đã dâng bản Tấu lên Vua rằng “ Trước đây đã vâng theo minh dụ: Từ nay nếu gặp lễ Ngũ hưởng và nếu Trẫm đến Thái miếu làm lễ thì việc cúng lễ ở 2 tòa Vu (Tả vu và Hữu vu) truyền cử các nhân viên được ban tước tập ấm, phân hiến theo án thờ. Lần sau Trẫm tới làm lễ ở Thế miếu cũng truyền làm theo như trước, hết một vòng lại trở lại từ đầu. Nay đã đến lễ Thu hưởng, xét thấy hai bên các tòa Tả vu, Hữu vu của Thái miếu, đến ngày đó xin để Bộ thần chiếu theo lệ tư cho các nhân viên trong Tôn thất và các quan văn võ hàng tứ, ngũ phẩm sung vào phân hiến. Lại xét thấy hai bên tòa Tả vu, Hữu vu của Thế miếu, đến lần sau phân hiến ở Tả vu cũng xin để Bộ thần tư cho nhân viên trong Tôn thất làm. Còn ở Hữu vu vẫn làm theo Dụ. Xin từ sau mãi mãi lấy đó làm lệ. Châu điểm”[2]

Bản tấu của Bộ Lễ ngày 25 tháng 6 năm Minh Mệnh 19 (1838) về việc sắp xếp quan chức cúng tế trong lễ Thu hưởng. Nguồn: TTLTQGI

            Để trông coi, bảo vệ tôn miếu, triều Nguyễn cho thành lập các đội bảo vệ. Đối với Thái miếu, Thế miếu, thời vua Gia Long có đội Tư Phụng nhất, Tư Phụng nhị. Đến thời vua Minh Mệnh năm thứ 3 (1822) đổi thành Tả Từ tế (trực ở Thái Miếu) và Hữu Từ tế (trực ở Thế Miếu). Ngoài ra còn có thêm biền binh Vệ Thần sách, Vệ Thân binh, Vệ Cấm binh lo canh giữ trong ngoài tường bao. Hàng tháng, mỗi sở phái ra 2 suất đội, 50 biền binh thay nhau ứng trực, quét dọn. Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), các đội bảo vệ được cấp thẻ bài để làm nhiệm vụ. Thẻ bài bằng sừng cấp cho biền binh, khắc chữ Phụng Trực; thẻ bài bằng ngà cấp cho Quản vệ, khắc chữ Quản Phụng trực còn cấp cho Suất đội khắc chữ Suất Phụng trực.

            Nghi thức tế lễ rất chặt chẽ, sắp xếp theo vị trí Thừa tế, Bồi tế, thậm chí kĩ càng, chi tiết ngay cả khi thời tiết mưa dầm “Nội các thần Nguyễn Đức Chính phụng Thượng dụ: Hàng năm kính gặp lễ ngũ hưởng ở các miếu. Trẫm đích thân đến làm lễ. Các Hoàng tử, Hoàng thân từ Thừa tế, Bồi tự, Chấp sự cho đến bá quan văn võ đều xếp hàng làm lễ ở trước sân. Nay nghĩ lễ Thu hưởng, Đông hưởng đều là lúc mưa dầm. Nay truyền cho đến kỳ lễ nếu có mưa, phàm các Hoàng tử, Hoàng thân dự làm Thừa tế chuẩn cho ở trên thềm. Người Chấp sự chuẩn cho ở góc điện phía Đông, Tây. Các Hoàng tử, Hoàng thân bồi tự đến quan văn là ấn quan tứ phẩm, quan võ tam phẩm trở lên chuẩn cho làm lễ ở trong ngoài các. Điển lễ là long trọng, cho Bộ Lễ đưa khoản này ra bàn xét kỹ càng ổn thoả tấu trình chờ Trẫm quyết định thi hành. Châu điểm[3].

Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), nghị chuẩn việc tế ở Thái miếu và Thế miếu trong lễ Thu hưởng, Đông hưởng cần chuẩn bị một cái chiếu lễ ở gian cuối trên thềm nếu thời tiết không thuận lợi. Theo đó “Nếu gặp mưa sương thì trước khi tế, do Bộ kính đặt một chiếc chiếu lễ của Thừa tế ở gian cuối trên thềm, rước Hoàng đế đến miếu sở, đứng vào ngôi chủ tế xong, các Hoàng tử, Hoàng thân vâng mệnh sung vào làm Thừa tế, Bồi tế, đều đứng ở các bên lạy theo”[4]

            Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) nhà Vua ban lệnh từ nay về sau, kính gặp các lễ tế lớn ở các miếu, do Bộ Lễ chọn cử Lang trung Viên ngoại lang sung giúp việc hô xướng, nếu như cần người xin do các nha tư cho điều, còn những người Ty lại đều không được dự. Lễ Thu hưởng triều Tự Đức tuyển chọn quan viên hô xướng phải có âm vực vang, nếu là hai viên hô xướng thì âm điệu phải hài hòa “Bộ Lễ phúc: Nay vâng sắc do Thái giám Trần Khoa chuyển truyền: Lần lễ Thu hưởng ở Thái miếu này; hai người được sung giúp việc tế ở bên ngoài, chức danh loại gì? Thanh âm sao lại cao thấp không giống nhau ? Phải xem xét rồi phúc trình. Từ nay về sau phàm kính gặp lễ lớn, kính được Vua giá ngự làm lễ, truyền cho Bộ chọn cử thuộc viên các nha, ai là người có giọng vang thì được sung giúp việc hô xướng để cho âm điệu hài hòa…”[5]. Trong nghi lễ Thu hưởng ở Thái miếu vào ngày mồng 2 tháng 7 năm Tự Đức thứ 4 (1851), do hai viên Lang trung giúp việc đều biệt phái đi làm công vụ nên Bộ Lễ chọn hai viên Chủ sự là Nguyễn Văn Thúy và Cao Hữu Tuần sung giúp việc hô xướng. Tuy nhiên lúc bắt đầu hành lễ, Chủ sự Nguyễn Văn Thúy quá run sợ nên giọng lạc đi, thanh âm không hài hòa với Cao Hữu Tuần, khiến cho Hoàng thượng trách hỏi. Ngay lập tức, Bộ Lễ phúc đáp “xét các thuộc viên Thái thường tự tập trung diễn tập để cho âm điệu hài hòa. Tạm thời cử Tứ, Ngũ, Lục phẩm hoặc có cần người xin do Bộ thần tạm điều trong số Thất, Bát phẩm ai là người giọng tương xứng thì cho làm thay, may chăng mới khỏi bị giọng cao thấp khác nhau. Xin trình bày đợi chỉ tuân vâng thực hiện.”[6]

            Tổ chức lễ Thu hưởng vào Thành Thái năm thứ 6 (1894), quy định triều phục cho các quan văn, võ tham gia tế lễ “ Bộ Lễ tư trình: Ngày mồng Một tháng tới có lễ Thu hưởng tại Thái miếu, Hoàng thượng tới làm lễ. Đã vâng phê chuẩn, Văn tứ ngũ phẩm, Võ tứ phẩm trở lên mặc triều phục, phẩm phục vào xếp 2 ban Tả, Hữu bên trước sân điện chờ hầu ngự giá đến làm lễ, đồng thời theo quy chế lễ nghi để làm lễ. Các quan Văn lục phẩm, Võ ngũ phẩm trở xuống đều mặc phẩm phục quỳ hầu nghênh đón ở 2 bên đường lát gạch tại hồ Thái Dịch.”[7].

Vũ đạo, âm nhạc trong lễ hưởng ở tôn miếu cũng được quy định chặt chẽ. Vũ đạo dùng múa bát dật tám hàng. Âm nhạc được sử dụng trong lễ Đại tự là một bộ nhã nhạc (bao gồm các nhạc khí: trống, đàn, nhị, sênh, khánh, chiêng, tù và, thanh la), tấu 9 bài và các bài đều có chữ HòaVề lễ miếu hưởng, tấu 9 bài, dùng chữ Hòa: Hàm hòa, Gia hòa, Tường hòa, Dự hòa, Ninh hòa, Mỹ hòa, Túc hòa, An hòa, Ưng hòa” [8]

            Lễ phẩm sau khi tế lễ sẽ cung tiến vào cung Gia Thọ, Đại Nội và phân chia cho Hoàng thân, Hoàng tử, Công chúa, bá quan văn võ và những người tham gia làm lễ “…4 con bê, 10 con trâu, 28 mâm xôi ruộng tịch điền xin chiếu lệ cung tiến cung Gia Thọ. Bê, dê, lợn, mỗi thứ 1, 2 mâm xôi ruộng tịch điền đều cung tiến Đại nội. Còn lại xin chia cho các Hoàng thân, Hoàng tử, Công chúa, văn võ ấn quan, những người tham gia công việc, phát giao cho các công sở…”[9].

          


[1] Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 4, trang 161

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 68, tờ số 249

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 28, tờ số 160

[4] Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 4, trang 163

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 28, tờ số 211

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 28, tờ số 211

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái, tập 87, tờ số 188

[8] Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 4, trang 164

[9] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 224, tờ số 175

Hải Yến