Đặng Văn Hòa (1791 - 1856), hiệu Lễ Trai, là con trai thứ hai của thầy đồ Đặng Quang Tuấn. Ông quê ở giáp Đông, xã Bác Vọng, tổng Phú Ốc, huyện Quảng Điền, phủ Thừa Thiên[1]. Ông có tên khác là Đặng Văn Thiêm. Trong Châu bản triều Nguyễn, trên các bản tấu, ông kí tên Đặng Văn Thiêm từ năm Tự Đức thứ 7 (1854), trước đó, ông đều kí tên Đặng Văn Hòa. Ông đổi tên thành Đặng Văn Thiêm sau khi con trai thứ hai của ông là Đặng Huy Hạo lấy Công chúa Tĩnh Hòa. Tuy nhiên, chính sử Đại Nam thực lục từ Đệ nhị kỉ ghi chép sự kiện lịch sử thời Thánh tổ Nhân hoàng đế đã ghi về ông với tên Đặng Văn Thiêm.
Theo chính sử Đại Nam thực lục, Đặng Văn Hòa đỗ Hương cống khoa thi Quý Dậu (1813). Khoa thi này lấy đỗ Hương cống 17 người. Trong đó, trường Quảng Đức lấy đỗ 9 người, gồm Hoàng Văn Đản, Nguyễn Bá Thịnh, Hoàng Quốc Điều, Nguyễn Lý Hào, Phạm Đình Thuận, Nguyễn Văn Thuyên, Lê Văn Đức, Đặng Văn Hòa, Trần Văn Tú.
Châu bản triều Nguyễn cho biết thêm rằng Lễ Trai Đặng Văn Hòa đỗ Hương cống khoa Quý Dậu năm Gia Long thứ 12 (1813). Năm Giáp Tuất (1814), Đặng Văn Hòa được thực thụ Cống sĩ viện. Năm Kỉ Mão (1819), ông được điều bổ làm Tri huyện huyện Hà Đông. Năm Tân Tị (1821) phái sung việc phúc khảo trường thi trực lệ. Năm Nhâm Ngọ (1822), Đặng Văn Hòa được thực thụ làm Lang trung Ty Thanh lại Bộ Binh.[2]
Nội dung này được kê khai trong bản tấu của Đình thần ngày 28 tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) về việc điều bổ chức khuyết ở trấn Thanh Hoa. Năm đó, chức Hiệp trấn và Tham hiệp trấn Thanh Hoa đều bị khuyết, vua liền mệnh cho Đình thần chọn cử và bổ thụ. Đình thần dâng tấu “xin chọn Tế tửu Quốc tử giám, Biện lí sự vụ Bộ Lại Nguyễn Hựu Bình nghị bổ Hiệp trấn trấn Thanh Hoa; Thiêm sự Bộ Binh Đặng Văn Hoà nghị bổ Tham hiệp trấn ấy.”[3] Khi đó, ông 33 tuổi.

Bản tấu của Đình thần ngày 28 tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 4 (1823)
về việc điều bổ chức khuyết ở trấn Thanh Hoa. Nguồn: TTLTQGI
Khi đang làm Tham hiệp trấn Thanh Hoa, Lễ Trai Đặng Văn Hòa phải trở về quê chịu tang. Chức khuyết đó bổ thụ Thiêm sự Bộ Lại Đặng Văn Nguyên. Đến đầu tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), vua ban chiếu thăng cho Đặng Văn Hòa làm thự Cai bạ Biện lí Binh bộ sự vụ và thực thụ Cai bạ, vẫn sung làm Biện lí Binh bộ sự vụ ngay cùng tháng đó.[4]
Sau đó, Đặng Văn Hòa được thăng làm thự Hữu tham tri Bộ Binh. Tháng 7 năm Minh Mệnh thứ 9 (1828), ông nhận lãnh Binh tào Bắc thành.[5] Từ đây, ông bắt đầu bén duyên với đất Hà thành. Đến năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), vua triệu thự Hữu thị lang Bộ Hộ lãnh Hộ tào Bắc thành Nguyễn Hữu Gia về Kinh và điều Đặng Văn Hòa làm Hữu tham tri Bộ Hộ lãnh Hộ tào Bắc thành.[6]
Năm 1831, vua Minh Mệnh xóa bỏ đơn vị hành chính trấn ở Bắc thành để lập thành các tỉnh. Khi mới lập tỉnh, vua Minh Mệnh cho tạm đặt chức Tuần phủ Hà Nội, sai Tham tri nguyên Hộ tào Bắc thành Đặng Văn Hòa sung làm Tuần phủ Hà Nội và kiêm lĩnh việc Đê chính.[7]
Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), Tổng đốc Định - Yên Hoàng Kim Xán mất, vua liền “đổi bổ Hộ bộ Hữu tham tri, quyền biện Tuần phủ Hà Nội Đặng Văn Thiêm[8], làm Binh bộ Tham tri lĩnh Tuần phủ Nam Định thự lý Tổng đốc Định Yên quan phòng.”[9]
Hơn 3 năm làm Tổng đốc Định - Yên, Đặng Văn Hòa hết lòng quan tâm, chăm lo đến đời sống nhân dân. Thời gian tại chức ở đây, Tổng đốc Đặng Văn Hòa dốc sức chăm lo việc đê điều ở tỉnh Hưng Yên, lại khai đào mở rộng lòng sông, khơi thông dòng chảy, đắp sửa thành quách ở tỉnh Nam Định.
Song, cái duyên của Lễ Trai Đặng Văn Hòa với Hà thành chưa dứt. Tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), vua đổi Tổng đốc Định - Yên Đặng Văn Hòa làm Tổng đốc Hà - Ninh[10].
Tuy năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) Đặng Văn Hòa mới làm Tổng đốc Hà - Ninh, nhưng trước đó rất lâu ông đã gắn bó với đất Hà thành khi làm Binh tào, Hộ tào Bắc thành và Tuần phủ Hà Nội. Trong thời gian trị nhậm nơi đây, Tổng đốc Đặng Văn Hòa luôn hết lòng vì dân. Sử liệu Châu bản triều Nguyễn cho biết năm Minh Mệnh thứ 18 (1837) vì muốn giảm bớt thuế cho dân các thôn, phường trong thành Hà Nội mà Đặng Văn Hòa đã bị phạt 6 tháng lương.[11] Sau đó, ông lại tiếp tục xin “Ngạch thuế biệt nạp, xét vật nào khó làm thì cho thu nạp như cũ. Ngoài ra, các loại vải nam đại, dầu nước đều trừ bỏ”.[12]
Đặc biệt, năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), ông dâng tấu xin thu thuế theo ruộng vụ hạ, vụ thu để thuận lợi cho dân. Trong bản tấu ngày 11 tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), ông trình bày: “Trộm xét 15 huyện trong toàn hạt tỉnh Hà Nội, Ninh Bình, ruộng cao thích nghi với vụ thu thì ít, ruộng thấp thích nghi với vụ hạ thì nhiều, thế đất vốn không như nhau nhưng địa bạ chia làm hai loại thu, hạ, thuế lệ cũng chia làm hai vụ thuế thu, hạ. Từ trước đến nay đã theo đó mà làm. Nhưng xét ra, ruộng thấp thích nghi với vụ hạ cả năm chỉ có một vụ lúa vụ hạ, thu thuế một phần còn một phần thì dân ăn dùng qua tay là hết, mỗi khi đến vụ đông thì hoặc lấy cớ ngập nước hy vọng may mà được miễn, hoặc phải mua thóc để nộp dẫn đến chồng chất nhiều năm không nộp xong. Ngày tháng 4 năm ngoái trong tập tấu thỉnh an thần có trình bày thêm: Xin đến vụ cày cấy cho kiểm tra rõ ràng nơi nào đất cao, nhiều ruộng thu thì thu thuế vào vụ đông; nơi nào đất thấp nhiều ruộng vụ hạ thì thu thuế vào vụ hạ; nơi thích nghi với cả hai vụ thu, hạ thì chia ra thu thuế như cũ, để cho tiện. Sau đó, được minh dụ: Truyền cho xem xét dân tình, nếu như đổi hạn thuế thì có tiện không? Trong tháng 2, tháng 3 năm nay thần đích thân đi khắp các nơi để kiểm tra đê điều, đã hỏi các quan phủ, huyện thì thấy sự mong muốn của người dân không như nhau. Thần đã bàn với Tôn Thọ Đức ở ty Bố chánh. Trừ các huyện đều có ruộng đất vụ hạ, vụ thu và có nhiều đất thích nghi với vụ hạ, cùng nơi nào có đất bãi thì đều cho chia làm hai kỳ thu thuế hạ, đông như cũ. Còn ba huyện thu thuế tiền vào vụ đông thì đã sức cho các quan phủ huyện ấy lập tức vào vụ hạ năm nay chiếu theo số mà đốc thu. Còn loại thuế tiền là bao nhiêu thì để đến vụ đông mới thu, để tiện cho dân, làm thử một năm mà quả dân tình thấy thuận tiện thích hợp, thuế công hoàn thành sẽ lại tâu xin làm lâu dài.”[13]
Ngoài việc thuế khóa, Tổng đốc Đặng Văn Hòa cũng rất chú ý đến việc sắp xếp binh ngạch, hộ tịch, lo phòng hỏa trong dân, trùng tu di tích. Nhìn chung, những việc gì có lợi cho dân, khiến dân an cư, ông đều gắng sức làm.
Sau 4 năm làm Tổng đốc Hà - Ninh, tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), vua cho triệu Đặng Văn Hòa về Kinh. Sau đó, vua ban cho ông làm Thượng thư Bộ Công kiêm quản Hàn lâm viện. Tháng 8 năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), Đặng Văn Hòa làm thự Tổng đốc Bình - Phú; năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), ông được đổi bổ làm Thượng thư Bộ Lễ.
Đến tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cái duyên với đất Hà thành tiếp tục đến với Lễ Trai Đặng Văn Hòa khi ông được gia hàm Thái tử Thiếu bảo, lãnh Tổng đốc Hà - Ninh lần hai. Trong bản phụng thượng dụ của Vũ Xuân Cẩn ngày mồng 7 tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) viết: “Hà Nội là nơi quan trọng, phên dậu vững mạnh của đất Bắc, chức trách lớn lao, lẽ nào để trống vắng lâu. Vả lại, Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Thượng thư Bộ Lễ sung đại thần Viện Cơ mật Đặng Văn Hoà trải qua gánh vác trong ngoài, từng giữ chức tại nơi đó, con người ấy rất thích hợp trị nhậm đất đó. Nay truyền lấy Đặng Văn Hoà gia hàm Thái tử Thiếu bảo Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Tổng đốc Hà - Ninh.”[14]
Đây là lần thứ hai Lễ Trai Đặng Văn Hòa giữ chức Tổng đốc Hà - Ninh. Tuy nhiên, chưa đầy một năm, tháng 4 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), vua điều bổ ông làm lãnh Tổng đốc Định - Yên. Đến tháng 3 năm Tự Đức thứ 9 (1856), vua cho ông lãnh chức Thượng thư Bộ Hộ. Ông giữ chức Thượng thư Bộ Hộ đến tháng 6 thì mất. Đại Nam thực lục chép: “Thái tử Thiếu bảo, thự Văn Minh điện Đại học sĩ, lĩnh Thượng thư Bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần, sung Kinh diên giảng quan, Quốc sử quán Tổng tài là Đặng Văn Thiêm (đỗ Hương cống, người ở Thừa Thiên) chết. Vua rất tiếc. Chuẩn cho thực thụ Văn Minh điện Đại học sĩ, tặng hàm Thiếu bảo, cho tên thuỵ là Văn Nghị, hậu cấp tiền tuất và sai quan đến tế.”[15]
Tháng 2 năm Tự Đức thứ 11 (1858), vua chuẩn cho những bề tôi cũ được bày bài vị thờ ở đền Hiền Lương gồm 39 người. Khi đó, Thái tử Thiếu bảo, Văn Minh điện Đại học sĩ, lãnh Thượng thư Bộ Hộ, tặng Thiếu bảo, thuỵ Văn Nghị Đặng Văn Thiêm cũng được đưa vào thờ tự.
Hơn 40 năm làm quan của Lễ Trai Đặng Văn Hòa thì có tới hơn chục năm gắn bó với đất Hà thành. Bên cạnh rất nhiều câu chuyện, giai thoại về ông như câu chuyện về “vị Thánh Đồng Đen”, bia khắc “Công này, đức này, tiếng để ngàn thu” vẫn còn lưu truyền đến ngày nay, còn nhiều tài liệu ghi nhận những công lao, đóng góp của ông với Hà Nội. Duyên nợ của ông đối với đất Hà Nội, đúng như lời dụ của vua Thiệu Trị: “con người ấy rất thích hợp trị nhậm đất đó”!
[1] TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 6, tờ 207.
[2] TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 6, tờ 207.
[3] TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 6, tờ 207.
[4] TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 16, tờ 302.
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 2, tr.777.
[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 3, tr.63.
[7] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 3, tr.249.
[8] Sau khi con trai thứ hai của Đặng Văn Hòa lấy Công chúa Tĩnh Hòa, ông đổi tên thành Đặng Văn Thiêm.
[9] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 3, tr.283.
[10] Tổng đốc Hà - Ninh: Tổng đốc hai tỉnh Hà Nội, Ninh Bình.
[11] TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 61, tờ 48.
[12] TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 61, tờ 102.
[13] TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 71, tờ 55.
[14] TTLTQGI, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 33, tờ 159.
[15] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 7, tr.746.
Nguyễn Hường