Trong các đền thờ Đạo giáo thờ thần linh hoặc danh nhân [đền, miếu], hình tượng ngựa hoặc voi hiện diện ở hầu khắp các nơi.
Ngựa thường đặt thành từng đôi, có khi lớn như ngựa thật. Chúng được làm bằng gỗ, gắn trên những khung nhỏ có bánh xe, phủ yên cương và được trang trí bằng giấy màu hoặc vải thêu, tùy theo điều kiện kinh phí của mỗi ngôi đền.
Ngựa được đặt bên trong đền, ở hai bên cửa chính, trong những chuồng ngựa nhỏ được thiết kế riêng. Khi rước kiệu, chúng được đưa ra ngoài và đặt ở phía trước đoàn rước.
Bản thân con ngựa trong các đền không phải là đối tượng thờ cúng. Việc đưa ngựa vào các ngôi đền Đạo giáo bắt nguồn từ một quan niệm khá phổ biến: các tín đồ tin rằng thần linh thay mặt họ dâng lời thỉnh cầu lên Thượng đế để xin ban phúc lộc, vì thế, để các chuyến đi dài mà thần linh thực hiện vì mục đích đó được hanh thông, họ dâng lên ngài một phương tiện di chuyển nhanh chóng và phù hợp.
Tại ngôi đền lịch sử ở Đình Bảng, phủ Từ Sơn, nơi thờ các vị vua triều Lý - những người có lăng mộ nằm tại khu rừng gần đó, ta bắt gặp một chuồng ngựa lớn. Trong đó, tương ứng với mỗi triều vua là một con ngựa gỗ được trang trí lộng lẫy, do một người lính bằng gỗ sơn son kéo dây, tất cả đều to như thật. Ở một khu vực khác của ngôi đền trưng bày mã chiến xa của các vị vua.
Các Phật tử tôn kính bạch mã để tưởng nhớ việc các sứ thần Trung Hoa dưới thời Hán Minh đế, được cử sang Ấn Độ đã mang về những bộ Kinh Phật đầu tiên trên lưng bạch mã.
Từ đó, tại Trung Hoa xuất hiện vô số nơi thờ tự mang tên Bạch Mã tự. Vào thế kỷ IX, khi xứ An Nam vẫn chịu sự cai quản của các tướng lĩnh Trung Hoa, lo ngại trước việc các tu viện, đền thờ mọc lên ở khắp vương quốc, Hoàng đế Trung Hoa ra lệnh tiến hành thống kê. Theo sử ký nhà Đường, lúc bấy giờ có 4.660 ngôi đền và tu viện do Nhà nước quản lý và 40.000 ngôi đền do tư nhân xây dựng.
Số tăng ni phật tử lên tới 260.500 người và có 150.000 nô lệ phục dịch tại các tăng viện.
Tại Hà Nội, đền Bạch Mã tọa lạc tại phố Cờ Đen [nay là phố Mã Mây] là một trong những ngôi đền cổ nhất của kinh thành. [….].
Ngôi đền ban đầu được xây dựng tại làng Long Đỗ, sau đó được dời về vị trí hiện nay khi triều Lý lập kinh đô Thăng Long vào năm 1010, cách hào lũy Đại La - công sự cổ của các tiết độ sứ Trung Hoa không xa.
Con voi ở Bắc Kỳ là biểu tượng của quyền lực tối cao đặt ở bên ngoài các đền thờ vua hoặc các vị thánh xuất thân từ hoàng tộc, được bố trí ở hai bên và phía ngoài cổng chính.
Những con voi trong chùa phần lớn được xây bằng gạch vữa hoặc tạc bằng đá; một số nơi còn có voi bằng gỗ gắn trên bánh xe, cùng với những con ngựa mà chúng ta đã nói đến, xuất hiện trong đám rước, được kéo bằng dây, và có người che lọng đi cùng.
Cách đường Cái quan không xa, trong các khu vườn vùng ngoại thành Hà Nội, có ngôi đền mang tên đền Hai Bà, được dựng lên để tưởng nhớ hai “Jeanne d’Arc” của xứ này - những người đã cầm vũ khí, dẫn đầu nghĩa quân, đánh đuổi quân Trung Hoa vào thế kỷ I.

Hai nữ anh hùng đó là chị em ruột, đã hi sinh trong một trận chiến đẫm máu diễn ra tại khu vực Sơn Tây, bên sông Đáy (sông Hát). Sau trận chiến này, đất nước một lần nữa rơi vào ách đô hộ của người Hoa. Sinh thời, hai bà thường chiến đấu trên lưng voi, vì thế, trong đền Hai Bà ở Hà Nội hiện đặt hai tượng voi với cặp ngà tự nhiên. Tương truyền đây chính là những chiếc ngà thật của hai con voi từng theo Hai Bà xung trận, được thu nhặt sau trận chiến và lưu giữ cho đến nay như biểu tượng của lòng thành kính và tinh thần yêu nước.
Ngoài ra, ngựa và voi giấy còn được hóa gửi xuống âm phủ. Cùng với đó là quần áo, mũ nón, giày dép, thuyền bè, đồ dùng sinh hoạt, thỏi vàng, thỏi bạc đều làm bằng giấy và các vật phẩm khác. Đây là những thứ được xem là cần thiết đối với người đã khuất, thần linh mà con người mong muốn được che chở hoặc tránh khỏi sự quấy nhiễu của quỷ dữ.
Nguồn: “Ngựa và voi trong tín ngưỡng của người An Nam” của Gustave Dumoutier, đăng trên Tuần báo Indochine, số 183, ngày 02/3/1944, bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.
Hoàng Hằng