03:35 PM 15/09/2021  | 

Ngoài Việt Nam, có ai nhìn thấy ở đâu hình ảnh một người quyền cao chức trọng khi nhìn thấy người thầy đồ già của mình lội bì bõm trên một con đường ngập nước liền xin thầy để mình cõng qua?

Thầy đồ dạy chữ Nho. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Xin trân trọng giới thiệu tới quý độc giả bài viết “Người học trò trong xã hội An Nam xưa” của tác giả La Giang, đăng trên Tuần báo Đông Dương, số 127, ngày 04/02/1943.

Dưới chế độ cũ, khi mà tuổi học sinh không bị giới hạn, giới học trò tạo thành một tầng lớp xã hội riêng. Người ta thấy họ ở mọi lứa tuổi: từ những đứa trẻ còn chưa nói thành câu, người mới lớn, người trưởng thành cho tới những người già tóc bạc.

Có thể dễ dàng nhận ra những người học trò qua cái ống quyển[1] mà hầu như ai cũng đeo trước ngực. Trên quần áo của họ hầu như không có thứ gì khác. Thứ mà họ thích nhất đó là được đội trên đầu chiếc nón sơn màu đỏ thắm. Các Nho sinh thực sự bằng lòng với cuộc sống đạm bạc này. Hàng ngày, nhiều người phải đi bộ cả quãng đường dài để tới nghe các thầy đồ[2] giảng bài, họ mang theo một bát cơm với ít vừng rang để dùng cho bữa ăn trưa.

Ở họ, đằng sau vẻ bề ngoài khiêm tốn ấy, là những phẩm chất đáng quý của một trái tim nhân hậu và một tư tưởng lớn.

Những người học trò nghèo nhất nhẫn nhịn cam chịu phận cơ hàn của mình. Họ không mảy may xấu hổ khi bị xếp vào hạng hàn nho, hàn sĩ, trái lại, họ tự hào về điều đó và lấy đó làm nguồn động viên cho sự nghiệp học hành của mình. Họ quen với cảnh cơ cực và thiếu thốn nhất: đọc sách dưới ánh trăng hay ánh sáng lập lòe của đom đóm đựng trong những chiếc túi trong suốt; một số không có tiền mua đèn dầu phải soi sáng bằng hương mỗi khi đọc nhanh các dòng chữ Nho. Họ cứ chăm chỉ, miệt mài đèn sách như vậy mà không biết mệt mỏi.

Ngoại trừ một số người nghịch ngợm đúng kiểu “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”, phần lớn học trò đều là những người chấp hành kỷ luật tốt và tôn trọng lễ nghĩa. Họ hãnh diện là người có tinh thần hào hiệp, giúp đỡ người khác và trung thành với lý tưởng trong mọi hoàn cảnh.

Giờ khoa học thường thức. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Họ đặc biệt yêu mến và kính trọng thầy.

Những gì người khác có thể thấy là hổ thẹn, không tương xứng với phẩm cách của mình thì họ lại chấp nhận một cách vui vẻ để tỏ lòng tôn kính với thầy đồ của mình. Chúng ta thường thấy cảnh học trò quét dọn, giặt giũ quần áo, làm các việc vặt ở nhà thầy vì thầy quá nghèo không có tiền thuê người giúp việc.

Ngoài Việt Nam, có ai nhìn thấy ở đâu hình ảnh một người quyền cao chức trọng khi nhìn thấy người thầy đồ già của mình lội bì bõm trên một con đường ngập nước liền xin thầy để mình cõng qua đoạn đường đó? Học sinh các trường hiện nay vô cùng thán phục khi đọc giai thoại về ông Carnot trên người mang đầy vàng, đã ôm chầm lấy thầy giáo mình khi gặp lại. Vậy các em đó có biết rằng thời xưa ở nước ta, các ông quan vẫn thường cúi lạy thầy dạy mình không?

Tình bạn gắn bó những người học cùng một thầy cũng thật đáng khen ngợi. Thời ấy, trẻ con trước khi đi ngủ hay được nghe câu chuyện đầy cảm động về việc Dương Lễ đã kín đáo yêu cầu người thiếp của mình chăm sóc bạn mình là Lưu Bình theo đuổi việc học cho tới khi đỗ đạt thành tài.

Những tình cảm tốt đẹp ấy cùng với uy tín mà chiếc bút và quyển sách mang lại cho người học trò một vị trí đáng trân trọng trong xã hội An Nam. Và chiếc đèn cổ lỗ ám khói với ánh sáng leo lét đồng hành bên họ mỗi tối như những ánh hào quang phủ lên họ và lý tưởng hóa họ. Học trò là những đứa con cưng của xã hội. Khi màn đêm buông xuống, những cô gái trẻ kín đáo nhất mới dám mơ về một anh học trò mảnh khảnh, xanh xao nào đó nhưng chất giọng lại quá đỗi ngọt ngào khi cất lên mấy câu thơ hay đọc một áng văn đầy xúc cảm trong không gian u tịch của màn đêm.

Người nông dân hãnh diện vì ruộng đất màu mỡ, ao đầy cá, đàn trâu béo múp, vườn cây trĩu quả, những hạt thóc vàng óng nhưng trên tất cả, họ vẫn yêu cái bút, cái nghiên cũng như những tình cảm tốt đẹp của anh đồ hơn, như câu dân ca dưới đây:

“Chẳng tham ruộng cả ao liền, tham về cái bút cái nghiên anh đồ”.

Nếu có người bạn gái có ác ý nói bóng nói gió rằng:

“Hoài thân mà lấy học trò

Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”

Người con gái đến tuổi cập kê chỉ cười tinh nghịch và trả lời rằng:

 “Dài lưng đã có võng đào.

 Tốn vải đã có áo bào vua ban”.

 

[1] Ống hình trụ bằng gỗ để đựng sách vở hay những tờ bài tập được cuộn lại.

[2] Thầy dạy chữ Nho.

Hoàng Hằng - Minh Phúc (dịch)