Cuộc chiến tranh giành thị trường và thuộc địa ở phương Đông giai đoạn đầu thuộc về người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha. Bồ Đào Nha đã chiếm Goa năm 1510, Malacca (1511), dòm ngó Trung Quốc (1514), Philippin (1521). Sau người Bồ Đào Nha là Hà Lan, Anh. Năm 1702, người Anh từng xâm chiếm Côn Đảo nhưng đã bị thủy quân chúa Nguyễn dùng kế đẩy lui một năm sau đó[1].
Nhìn chung, từ những cuộc thăm dò thị trường, mở thương điếm đến việc tìm cách áp đặt thuộc địa ở phương Đông đã trở thành con đường quen thuộc của tư bản phương Tây tại phương Đông. Trong cuộc đua này, tư bản Pháp tuy tới muộn nhưng lại thành công trong cuộc xâm lược Việt Nam vào thế kỷ XIX.
Đại tá Thủy quân Hyacinthe de Bougainville cùng phái đoàn Pháp tới Đà Nẵng năm 1825 trên 2 chiếc thuyền Thétis và Espérance nhưng không được yết kiến Vua Minh Mạng. (Tranh vẽ de Bougainville khoảng năm 1830)
Người Pháp tới Việt Nam muộn hơn. Cơ hội để người Pháp tìm cách xâm chiếm Việt Nam bắt nguồn từ cuộc chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn khi Nguyễn Ánh giao con trai của mình là Hoàng Tử Cảnh cho giám mục Pigneau de Behaine (Adran - Bá Đa Lộc) làm con tin qua Pháp cầu viện. Trong một bức thư của Bá Đa Lộc viết ngày 20.3.1785, đã cho thấy rõ âm mưu của người Pháp trong thương vụ chính trị này: “nếu sau này cha cậu (chỉ Nguyễn Ánh) đi với phía người Ăng Lê hay phía người Hoa Lang để nhờ họ giúp ông ta phục quốc thì quý cha sẽ cảm thấy là cái việc mà chúng ta có thể làm cho cậu con trai của ông ta ít ra cũng sẽ hữu ích vô cùng”[2]. Tham vọng của Bá Đa Lộc đã được thể hiện như thế. Tuy nhiên rất may là mọi việc không xuôi chèo mát mái, những điều khoản từ Hiệp ước với Pháp không được thực thi, những ràng buộc không có điều kiện thực hiện nhưng dù sao, người Pháp vẫn có cớ lui tới, ít nhất là sâu hơn những người phương Tây đương thời.
Sự chi viện của Pháp không bao giờ được thực hiện nhưng với sự nỗ lực của Bá Đa Lộc và những kẻ phiêu lưu, Nguyễn Ánh vẫn nhận được một số giúp đỡ nhất định. Trong quân đội của Nguyễn Ánh từ khi còn ở Gia Định đã sử dụng những thuyền chiến, chiến thuật và cả chỉ huy là người phương Tây. Các cuộc hành quân của ông, cũng được đánh giá là theo binh pháp kiểu phương Tây. Chính Nguyễn Ánh – Gia Long và các vua kế nghiệp hiểu rõ hơn ai hết ý đồ của các nước phương Tây lúc bấy giờ để đưa ra những biện pháp ứng phó.
Trong quan hệ với Pháp, triều Nguyễn vốn đã có chút “duyên nợ” từ trước nên khi thành công vua Gia Long cũng không dễ từ chối quan hệ với họ. Gia Long đã tiếp tục sử dụng một số người Pháp cho làm quan trong triều đình như một sự đền ơn. Tuy nhiên, sang đến thời Minh Mạng thì sứ mạng của những vị quan này không còn, họ đã về nước trong sự thất bại bởi không thể là cầu nối giữa Pháp và Việt Nam.
Trong quan hệ với người Anh, năm 1804 phái đoàn Anh đã tới Việt Nam muốn thiết lập quan hệ, “dâng biểu xin thông thương” nhưng Gia Long đã từ chối: “Tiên vương kinh dinh việc nước không để người Hạ lẫn người Di, đó thực là cái ý đề phòng từ lúc việc còn nhỏ. Người Hồng Mao [chỉ người Anh] gian giảo, trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ khác hẳn, không cho ở lại, ban cho ưu hậu mà khiến về…”. Sau đó họ đã hai ba lần dâng thư nhưng vua Gia Long vẫn kiên quyết không cho[3]. Dưới thời Minh Mạng, người Anh tiếp tục tới xin thông thương nhưng vẫn không thu được kết quả.
Hoa Kỳ cũng từng muốn đặt quan hệ với Việt Nam. Năm 1820, John White đến Gia Định. Năm 1832, Edmond Roberts đến Việt Nam trình quốc thư nhưng Minh Mạng không tiếp. Không nản chí, năm 1836, Edmond Roberts mang theo quốc thư trở lại nhưng vẫn không thành. Tuy nhiên, càng về sau, trước tình hình thế giới có nhiều biến đổi, nhất là bài học của các nước xung quanh kể cả Ấn Độ, Trung Quốc đã làm cho các vua Nguyễn thấy bất ổn. Đến cuối thời Minh Mạng, ông đã nhiều lần cử các phái đoàn công tác ra bên ngoài vừa để mua hàng hóa nhưng chủ yếu là nắm tình hình thế giới. Phái đoàn của Minh Mạng cử đi từng tới Pháp, Anh nhưng không được đón tiếp và không thu được kết quả nào bởi tình hình đã khó khăn hơn.

Bức thư ngoại giao đầu tiên của Tổng thống Mỹ Andrew Jackson gửi Vua Minh Mạng năm 1832.
Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nguyệt san
Nhìn chung âm mưu xâm lược của các nước phương Tây, chủ yếu là Pháp vào Việt Nam là cả một quá trình, qua nhiều thời gian. Bước vào thế kỷ XIX, thủ đoạn của chúng càng nham hiểm và mạnh mẽ hơn, điển hình là các cuộc mang tàu chiến tới đòi thi hành Hiệp ước, đòi tự do tôn giáo và mở cửa thông thương. Những va chạm của thuyền chiến phương Tây với quân đội nhà Nguyễn tại các cửa biển miền Trung những năm giữa thế kỷ XIX cho biết điều đó. Thực tế, họ chưa thực hiện ý đồ xâm lược do một số lý do nội tại chứ không hẳn e sợ sức mạnh phòng ngự của quân đội nhà Nguyễn.
Đứng trước tình hình thế giới nhiều chuyển biến mạnh mẽ thì ở trong nước, triều Nguyễn vẫn xây dựng và điều hành đất nước theo lối bảo thủ. Hệ tư tưởng Nho giáo đã chi phối cách nhìn và cách thực hành của vua tôi nhà Nguyễn khi tự xem mình là nhất thiên hạ. Triều Nguyễn cũng thực thi chính sách cấm đạo, giết đạo một cách không phân biệt. Tuy vẫn để các thương thuyền phương Tây lui tới buôn bán nhưng không giao thương chính thức, nhất là với các nước phương Tây là chủ trương nhất quán của triều Nguyễn.
Chúng tôi phát hiện trong Châu bản triều Nguyễn điều đặc biệt là tư tưởng hạn chế giao thiệp với người phương Tây, trực tiếp là Pháp đã được các vua Nguyễn thực hiện nhất quán. Đó là lấy cớ ảnh hưởng đến kinh tế truyền thống để không xác lập quan hệ chính thức: “Các vị đã từng nhận chức quan nước ta, đã được thiết đặt nhiều chức vụ quan trọng, cho thông thương buôn bán, hậu đãi rất nhiều. Nay, ngoài vùng biển ta có bọn hải tặc lộng hành, các vị xin được đi dẹp loạn, điều đó là tốt. Việc buôn bán, trao đổi thông thương qua lại thì không vấn đề gì, song việc thiết lập phố xá lâu dài thì không thể đồng ý. Bởi, nước ta đã có điều lệ rằng: người ngoại quốc không được thiết đặt phố xá, cư ngụ lâu dài ở trong nước ta. Đấy là quy tắc của vương triều, thống nhất rõ ràng trước nay, từ triều quan cho đến dân dã đều phải tuân thủ. Bởi thế, quan lại ở địa phương không được phép tự tiện đồng ý cho người các nước thiết lập phố xá cư trú lâu dài trên đất của vùng đó. Thứ nữa, việc quý quốc buôn bán nhiều vật hạng là điều tốt nhưng trong đó có nha phiến – một trong những vật hạng thuộc quốc cấm của nước ta – cùng các loại trân châu, dị thảo, điều đó là sai với quy định. Vậy đề nghị các vị không được phép buôn bán những loại này trên lãnh thổ nước ta. Người trong nước có truyền thống lấy nông nghiệp làm nghề chính yếu, làm ruộng nương và trồng dâu nuôi tằm đã trở thành phương kế sinh nhai bao đời nay. Vậy nên, việc thu mua vật hạng, thiết lập phố thương, làm đảo lộn cuộc sống của dân cư nước ta đấy là điều nên tránh”[4].
Hồi đáp về “quy tắc của vương triều, đã thống nhất rõ ràng trước nay” của vua Nguyễn cho thấy sự cứng rắn và nguyên tắc nhất quán trong quan hệ với người Pháp. Tư tưởng hạn chế giao thương đó vẫn tiếp tục duy trì về sau. Thuyền Tây đến xin thông thương thì vua Nguyễn vừa tự cao, vừa lo sợ họ có ý khác nên phải đề phòng là hơn: “Tiên vương kinh dinh việc nước không để người Hạ lẫn người Di, đó thực là cái ý đề phòng từ lúc việc còn nhỏ”[5].
Các vua Nguyễn đã luôn coi phương Tây có những đe dọa tiềm tàng đối với an ninh và rối loạn tư tưởng thống trị là Nho giáo. Kinh tế trong nước vẫn là nền nông nghiệp lạc hậu, đời sống nhân dân khó khăn. Phong trào đấu tranh nông dân diễn ra liên tục, ngày càng lan rộng đã làm suy giảm sức mạnh của chính quyền và của cả dân tộc. Trong bối cảnh đó, mặc dù triều Nguyễn nhận thấy những nguy cơ tiềm ẩn buộc phải thực thi một số chính sách về quốc phòng, an ninh nói chung nhưng nhìn chung không đủ để vươn tới tầm khoa học kỹ thuật của thời đại.
[1] Lê Tiến Công (2013), “Biến cố trên Côn Đảo đầu thế kỷ XIII”, Tạp chí Huế Xưa & Nay, số 2.
[2] Nguyễn Minh Hoàng (dịch) (2013), Thư của các giáo sĩ thừa sai, NXB Văn học, tr. 389.
[3] Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Tập 1, tr. 603.
[4] Châu bản triều Nguyễn, triều Tự Đức, Trung tâm lưu trữ quốc gia I, HN, tập 112, tờ 86
[5] Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Tập 1, tr. 603
|
ĐÓN XEM TRIỂN LÃM 3D: "BANG GIAO TRIỀU NGUYỄN: GIỮA LÀN GIÓ ĐÔNG - TÂY" * Thời gian khai mạc: 08h00, ngày 22/8/2024 * Tại website, fanpage: - Website Trung tâm Lưu trữ quốc gia I: https://archives.org.vn - Fanpage Trung tâm Lưu trữ quốc gia I: https://facebook.com/luutruquocgia1 * Đơn vị thực hiện: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I (Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước) ----- Thông tin thêm, vui lòng liên hệ: Hồng Nhung, điện thoại: 0973718889, email: hongnhung.k47@gmail.com |
Lê Tiến Công