Mạng lưới đường bộ mở rộng kéo theo sự phát triển của vận tải ô tô ở Đông Dương. Ngoài người Âu, hiện gần như luôn sử dụng ô tô cho các chuyến đi lại nội địa, khách hàng bản xứ cũng đang bị phương tiện di chuyển mới này chinh phục. Cùng với đó là số lượng ô tô lưu thông tăng vọt trong những năm gần đây, nhất là ở Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Cao Miên.
Các con số thống kê nhập khẩu giúp hình dung rõ nét về sự phát triển (của ngành ô tô) gắn liền với mạng lưới đường bộ.
Trong giai đoạn 1915-1918, kim ngạch nhập khẩu ô tô hàng năm dao động trong khoảng 1 đến 2 triệu phơ-răng, bất ngờ tăng lên 6.700.000 phơ-răng năm 1919 và 33 triệu phơ-răng năm 1920.
Trong hai năm 1919 và 1920, hầu hết ô tô nhập khẩu xuất xứ Mỹ. Mức thuế giá trị (ad-valorem) 25% áp dụng đối với xe hơi nước ngoài đã giảm số lượng ô tô nhập khẩu năm 1921, đưa tổng kim ngạch xuống còn 13 triệu phơ-răng. Kim ngạch ô tô nhập khẩu, gần như chỉ xuất xứ Pháp, không ngừng tăng lên kể từ đó và đạt hơn 15,5 triệu phơ-răng năm 1922, 20 triệu năm 1923 và 35 triệu năm 1924. Năm 1924, trong số 35 triệu nói trên, ô tô nhãn hiệu nước ngoài chỉ chiếm 1.300.000 phơ-răng.
Tính đến ngày 01 tháng 5 năm 1926, tổng số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (bao gồm xe máy) lưu thông ở thuộc địa lên tới 10.299, phân bổ ở các kỳ như sau:
|
Kỳ |
Ô tô con |
Ô tô tải |
Xe máy |
Tổng |
|
Nam Kỳ |
4.374 |
768 |
536 |
5.678 |
|
Bắc Kỳ |
1.943 |
331 |
592 |
2.866 |
|
Cao Miên |
524 |
122 |
37 |
683 |
|
Trung Kỳ |
589 |
281 |
96 |
966 |
|
Lào |
49 |
30 |
27 |
106 |
|
Tổng |
7.479 |
1.532 |
1.288 |
10.299 |
Vận tải công cộng bằng ô tô
Người bản xứ ngày càng có xu hướng sử dụng ô tô để di chuyển, kéo theo việc thành lập và phát triển vô cùng nhanh chóng của dịch vụ vận tải công cộng bằng ô tô.
Nhiều dịch vụ thường kỳ, một số được thuộc địa trợ cấp để đảm bảo việc vận chuyển thư tín, diễn ra hàng ngày, nối liền các trung tâm lớn xa đường sắt. Một số dịch vụ, ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, còn khai thác các tuyến song song với đường sắt.
Những dịch vụ này tăng lên rõ rệt từng ngày. Số lượng, chất lượng và trọng tải xe cũng không ngừng gia tăng.
Bảng dưới đây cho thấy số lượng xí nghiệp vận tải công cộng ở các kỳ thuộc Đông Dương đã tăng lên theo cấp số nhân như thế nào trong những năm vừa qua.
|
Kỳ |
1921 |
1922 |
1923 |
1924 |
1925 |
|||||
|
Xí nghiệp |
Số xe |
Xí nghiệp |
Số xe |
Xí nghiệp |
Số xe |
Xí nghiệp |
Số xe |
Xí nghiệp |
Số xe |
|
|
Trung Kỳ và Lào |
13 |
21 |
28 |
49 |
39 |
76 |
61 |
122 |
82 |
178 |
|
Cao Miên |
37 |
62 |
46 |
69 |
63 |
82 |
76 |
134 |
161 |
215 |
|
Nam Kỳ |
245 |
649 |
268 |
690 |
319 |
777 |
380 |
876 |
513 |
1075 |
|
Bắc Kỳ |
|
|
17 |
35 |
28 |
78 |
61 |
145 |
96 |
231 |
|
Tổng |
295 |
732 |
359 |
843 |
449 |
1013 |
578 |
1277 |
850 |
1699 |
Sự phát triển đặc biệt nhanh chóng nói trên dẫn đến sụt giảm nguồn thu của đường sắt, khiến Chính quyền phải giảm cước ở mức độ nhất định. Vé hạng 4 giảm 30% trong năm nay ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã kéo theo sự gia tăng trở lại rõ rệt của vận tải đường sắt mà vận tải đường bộ không thể theo kịp.
Quy định về lưu thông ô tô
Việc lưu thông ô tô ở Đông Dương được quy định tại nghị định của Toàn quyền ngày 29 tháng 9 năm 1913, sửa đổi và bổ sung tại các nghị định tiếp theo, gần đây nhất là nghị định ngày 20 tháng 01 năm 1920. Quy định này do cơ quan công chính tại các địa phương giám sát việc thực thi và được áp dụng cho tất cả phương tiện cơ giới trừ những phương tiện giao thông đường sắt.
Ngoài ra, nhiều nghị định của người đứng đầu các kỳ cũng bổ sung quy định trên đây cho phù hợp với từng kỳ, đặc biệt là quy định đối với ô tô vận tải công cộng, trong đó nêu rõ trọng tải tối đa/trục, kích thước gabarit, số hành khách, tốc độ…
Cuối cùng, chính quyền các tỉnh và thành phố cũng ban hành nhiều quyết định quy định chi tiết về lưu thông và giám sát đối với ô tô tại các khu đô thị, đặc biệt là vận tốc tối đa.
Theo những quy định kể trên, không phương tiện cơ giới nào được lưu thông tại thuộc địa trước khi có biên bản của cơ quan công chính địa phương xác nhận rằng phương tiện đó đáp ứng các quy định về an toàn, đặc biệt là có 2 hệ thống phanh riêng biệt.
Chủ phương tiện phải nộp bản sao biên bản kèm theo tờ khai lên người đứng đầu chính quyền cấp kỳ trước khi đưa phương tiện vào lưu thông. Biên bản phải được thay mới mỗi lần phương tiện đổi chủ hoặc thực hiện những sửa chữa gây ảnh hưởng đến loại hình và tốc độ phương tiện. Có biên lai ghi nhận việc nộp tờ khai.
Phương tiện cơ giới được đăng ký vào sổ, gồm số thứ tự của phương tiện theo sau là chữ cái đầu của tên kỳ thuộc Liên bang, trừ Cao Miên lấy 2 chữ cái PP (Phnom-penh). Con số này được in rõ ở đuôi xe và được chiếu sáng vào ban đêm.
Cuối cùng, mọi tài xế phải có bằng lái có dán ảnh, được cấp sau các bài thi thực hành trước một hội đồng do người đứng đầu chính quyền cấp kỳ chỉ định. Bằng lái có thể bị tước nếu người được cấp bằng vi phạm dẫn đến bị phạt nhiều lần trong năm.
Theo Bulletin économique de l’Indochine, số 180, năm 1926.
Bùi Thị Hệ (lược dịch)