06:57 PM 13/11/2022  | 

Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên Ba thương má lúm đồng tiền Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua Răng đen đã từng là chuẩn mực của cái đẹp theo quan niệm thẩm mỹ xưa. Không chỉ ở Việt Nam, tục nhuộm răng đen cũng từng xuất hiện ở nhiều quốc gia Đông Nam Á và Đông Á.

Trong khi tục cà răng có thể thấy trên khắp thế giới thì tục nhuộm răng đen chỉ tồn tại trong một vùng tam giác ở bờ biển khu vực Đông Á. Đỉnh tam giác, về phía bắc chạm đến miền Bắc Nhật Bản[1]. Cạnh đông là quần đảo Mariannes và góc phía đông là quần đảo Salomon. Cạnh đáy chạy qua Timor và Java; góc phía tây là đảo Sumatra, còn cạnh tây chính là Đông Dương.

Sơ đồ bờ biển khu vực Đông Á

Tại khu vực này, cư dân bản địa nhuộm răng đen với các kỹ thuật đa dạng nhất và phong phú nhất. Khi thì người ta chỉ nhuộm riêng, khi thì kết hợp với cà răng (dũa, đục) - một phong tục rất được ưa chuộng đối với những dân tộc theo văn hóa Indonesia, dù ở đất liền hay ở ngoài đảo.

Tại xứ Đông Pháp, tục này khá phổ biến nhưng không vượt quá vĩ tuyến 28o35 Bắc. Hơn nữa, đường phân chia này trùng với ranh giới phía Bắc của người Thái và ranh giới khu vực sinh sống của người Khạ, nơi người dân dùng nanh heo dưới để cài tóc (theo Guibaut).

Thật khó có thể thiết lập chính xác bản đồ nhuộm răng đen ở Đông Dương. Tuy nhiên, nếu để ý, ta sẽ thấy người An Nam, Thái, Mường, Mán, Khmer, Thượng và một số người Khạ đều nhuộm răng đen.

Tộc người Sinoïde ở vùng cao, người Hoa, người Chăm và một số người Thượng đã bị Chăm hóa lại không theo tục lệ này.

Ngay ở người An Nam, tục này cũng mai một dần. Xu hướng này thể hiện khá rõ ở Nam Kỳ bởi hai tác động: thứ nhất là số Hoa kiều tại đây khá đông, thứ hai là sự phát triển nhanh chóng của nền văn minh phương Tây. Tại Bắc Kỳ, tục nhuộm răng đen đang dần biến mất ở các đô thị lớn song vẫn rất phổ biến ở nông thôn.

Qua các cuộc khảo sát, trong số 1.430 lính bản xứ tuyển mộ từ nông thôn, có tới 1.037 người răng đen. Vì vậy, có thể tạm kết luận là 80% dân quê Bắc Kỳ nhuộm răng đen, trong đó 60% ở độ tuổi từ 22 đến 26.

Phụ nữ An Nam nhuộm răng đen

Điều đó cũng có nghĩa là tại những khu vực quanh Hà Nội, người ta vẫn nhuộm răng đen. Ở các chợ vùng quê, chúng tôi còn thấy những em bé có hàm răng đen nhánh, điều này đòi hỏi phải có phương pháp nhuộm riêng.

Về phương pháp nhuộm răng đen, đã có những mô tả sai lầm. Trầu làm cho môi đỏ thắm và làm cho răng ngả màu như răng cải mả theo cách nói của người An Nam. Từ đó suy ra rằng răng của người An Nam bị đen là do ăn trầu, đây là kết luận rất hồ đồ của một số tác giả mà tôi không tiện nêu tên.

Tiếp nối suy nghĩ của Pierre Loti trong tác phẩm Chuyện lưu đày, một số người khác cho rằng răng nhuộm đen được là nhờ trát lên một lớp sơn.

Thực tế cũng như những gì mà Mondière chứng minh từ năm 1873, tiếp đến là Girard, Crévost, Bonifacy, Holbé và Sallet, cho thấy vấn đề không phải như vậy.

Răng không phải là sơn đen mà là ruộm đen. Không cần bàn kỹ về vấn đề kỹ thuật, chúng tôi chỉ thấy đầu tiên người ta bôi lên răng một thứ thuốc màu đỏ gọi là thuốc ruộm răng đỏ. Thứ thuốc này chẳng có gì liên quan tới loại sơn đen, không phải đỏ, chiết từ một số cây trầu. Như vậy nói sơn răng là không đúng. Cần phải thay thuật ngữ này bằng thuật ngữ mà người An Nam thường sử dụng là răng ruộm đen. Sau khi răng được nhuộm đỏ, người ta đắp lên răng một hỗn hợp gồm sắt và ta-nanh gọi là thuốc ruộm răng đen để răng có màu đen vĩnh viễn.

Trên đây là kỹ thuật của người An Nam. Tuy nhiên, còn có nhiều cách khác cũng cho kết quả tương tự như vậy.

Tại sao người An Nam nhuộm răng đen? Tục đó mang ý nghĩa gì về mặt nhân chủng học?

Giống như nhiều tục lệ khác của người An Nam. Tục nhuộm răng đen bắt nguồn từ truyền thuyết về một ông vua - chồng của một nữ thần biển. Vị nữ thần này sinh được 100 trứng nở ra 100 người con trai. Ít lâu sau đó, hai người chia tay vì bất hòa. Nữ thần muốn mang 100 người con trai theo mình về biển. Nhà vua đã tìm cách giấu 50 người con và để đánh lạc hướng người mẹ khi đi tìm con, nhà vua đã xăm da và nhuộm đen răng lũ trẻ để nữ thần không nhận ra được.

Tuy nhiên, thật khó xác định tục này bắt đầu từ khi nào.

Ở Đông Dương, người ta chưa bao giờ tìm thấy răng đen ở các sọ cổ cho phép xác minh được niên đại của tục lệ này. Tuy nhiên, các biên niên đời Chu của Trung Hoa và các văn bản được cho là của Tư Mã Thiên cho rằng tục nhuộm răng đen có từ thế kỷ III TCN.

Có vẻ như vào hậu kỳ đồ đồng, Đông Dương nằm trong nền văn minh biển gồm Đông Nam Á và Indonesia. Nền văn minh này được những thủy thủ dũng cảm truyền bá lên phía Bắc là Nhật Bản và về phía Nam là Madagasca (theo Przyluski). Hơn nữa, hai khu vực này chắc chắn có sự lai tạo giữa các cư dân bản địa bằng dòng máu Mã Lai. Như vậy việc chỉ nhuộm răng đen hoặc kết hợp với cà răng có thể coi là dấu tích của văn hóa đại dương này. Sau khi phát triển rực rỡ ở Nhật, Philippine, Insuline và Hindoustan, nền văn minh đó dần dần kết thúc chu trình của nó và nhanh chóng chịu ảnh hưởng của văn minh phương Tây sau nhiều thế kỷ chống lại văn hóa Trung Hoa ở Đông Dương.

Nguồn: Theo P. Huard, đăng trên Tuần san Indochine số 134, ngày 25/3/1943.

 


[1] Ở Trung Quốc, tục nhuộm răng chỉ tồn tại ở một số bộ lạc thổ dân của tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, nơi xưa kia không thuộc Trung Hoa mà hợp nhất vào nước Văn Lang, tức Bắc Kỳ ngày nay. Ở Nhật Bản, tục lệ này cũng phải xuất hiện ít nhất từ năm 920. Vào thế kỷ XVI, các võ sĩ đạo samurai Nhật Bản cũng theo tục tệ này. Vì vậy người ta nhuộm đen răng của các binh sĩ bị chặt đầu trên chiến trường cho giống đầu của các thủ lĩnh. Từ năm 1870, nam giới Nhật Bản chỉ được phép để răng trắng. Năm 1901, Nữ hoàng Sadoko là người tiên phong khuyến khích phụ nữ Nhật từ bỏ phong tục này.

Minh Phúc - Nguyễn Thị Loan