11:40 PM 30/07/2026  | 

Trong dòng chảy lịch sử, vua Minh Mệnh đã để lại nhiều dấu ấn đối với chế độ quân chủ Việt Nam. Sau những nỗ lực xây dựng và cải cách hành chính, Minh Mệnh đã đưa đất nước trở thành một cường quốc của khu vực. Năm 1838, ông đổi quốc hiệu là Đại Nam, đây là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử nước ta.

Trong 21 năm tại vị, dấu ấn của vua Minh Mệnh không chỉ là những cải cách nhằm xây dựng quốc gia hùng cường mà còn là công cuộc mở mang bờ cõi trải dài từ Bắc chí Nam. Lãnh thổ đó vừa có biển khơi vô tận vươn tới quần đảo Hoàng Sa, vừa có biên giới chạy dọc xuống phương Nam, và mở rộng sang Tây Nam. Sau khi Vua giành lại Trấn Ninh, lập các phủ Trấn Tĩnh, Trấn Định, Trấn Biên, Lạc Biên, đánh bại Xiêm La, đổi tên vùng đất Chân Lạp thành Trấn Tây thành và chính thức nhập vào lãnh thổ, nhiều nước trong khu vực xin được bảo hộ. Thời kì đó, nước ta là một cường quốc ở khu vực Đông Nam Á. Năm 1838, vua Minh Mệnh cho đổi quốc hiệu thành Đại Nam.

Theo Đại Nam thực lục, tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), vua định quốc hiệu là Đại Nam và dụ rằng: “Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một dải phía đông đến tận biển Nam, vòng qua biển Tây, phàm là người có tóc có răng, đều thuộc vào trong đồ bản, bãi biển xó rừng khắp nơi theo về cả, trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam, càng tỏ nghĩa lớn, mà chữ Việt cũng vẫn ở trong đó. Kinh Thi có nói: ‘Nước nhà Chu dẫu cũ, mệnh vận đổi mới!’ để cho đúng với tên và sự thực. Chuẩn cho từ nay trở đi, quốc hiệu phải gọi là nước Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô, phải chiểu theo đó tuân hành, gián hoặc có nói liền là nước Đại Việt Nam, về lẽ vẫn phải, quyết không được lại nói hai chữ Đại Việt. Còn hiệp kỷ lịch năm nay, trót đã ban hành, không phải thay đổi hết thảy, nhưng nên in lại 3.000 tờ nhãn lịch trình dâng, chờ ban cho các quan viên ở Kinh và tỉnh ngoài, cho rõ hiệu lớn, còn thì phải lấy năm Minh Mệnh thứ 20 (1839) làm bắt đầu đổi chép chữ Đại Nam ban hành, để chính tên hiệu và khắp các nơi xa gần[i].

Như vậy, sau khi đặt quốc hiệu Đại Nam, số lịch Hiệp kỷ đã ban hành không phải sửa đổi nhưng vua cho in thêm 3000 trang nhãn lịch cấp cho quan viên trong kinh và các tỉnh để rõ hiệu lớn. Tuy nhiên, sử liệu Châu bản triều Nguyễn cho biết, ban đầu dự kiến in thêm khoảng 1000 trang lịch có quốc hiệu mới. Nội dung bản tấu của Khâm Thiên giám ngày 23 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) viết: “Ngày mồng 2 tháng 3 năm nay, khâm phụng thượng dụ trong đó có một khoản: Nay truyền về sau  quốc hiệu nên gọi là Đại Nam quốc, nhất thiết xưng hô trong văn tự lập tức chiếu đó tuân theo thực hiện. Hoặc giả có gọi liền là Đại Việt Nam quốc về lý cũng được, mãi mãi không được lại gọi hai chữ Đại Việt. Còn lịch Hiệp kỷ năm nay đã ban hành không nhất nhất phải sửa đổi nhưng nên in lại khoảng 1000 trang nhãn lịch dâng lên chờ ban cấp cho quan viên ở kinh và tỉnh ngoài để rõ hiệu lớn[ii].

Ngay sau đó, tổng đốc các địa phương cũng khâm mệnh làm tờ truyền thị gửi đi để quan viên và thứ dân các nơi biết rõ quốc hiệu mà ghi chép theo quy định. Tờ truyền thị của quan Quyền hộ Long Tường tổng đốc quan phòng gửi cho Thự Tri phủ phủ Hoằng An ngày 27 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) cho biết: “Nay nhận được tư văn của Bộ Lễ nói rằng vâng được sắc dụ truyền về sau quốc hiệu nên gọi là Đại Nam, nhất thiết xưng hô trong văn tự lập tức chiếu đó tuân theo thực hiện. Hoặc giả có gọi liền là Đại Việt Nam quốc về lý cũng được, mãi mãi không được lại gọi hai chữ Đại Việt… Lại nên làm riêng truyền thị xuống hạt để quan lại, thứ dân về sau có dùng quốc hiệu như khắc minh chuông, bi chí cho đến đề viết các loại văn từ cùng tất cả trước thuật đều nên dùng và gọi là Đại Nam quốc hoặc gọi liền là Đại Việt Nam quốc, mãi mãi không được lại gọi hai chữ Đại Việt khiến sĩ dân biết rõ[iii].

TÀI LIỆU

Tờ truyền thị của Quyền hộ Long Tường tổng đốc quan phòng gửi cho Thự Tri phủ phủ Hoằng An ngày 27 tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) về việc đổi quốc hiệu là Đại Nam.

Nguồn: TTLTQGI.

Cùng với việc đổi quốc hiệu, nhiều kim bảo ngọc tỉ của triều đình nhà Nguyễn cũng được khắc quốc hiệu Đại Nam. Tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), ấn Đại Nam thiên tử chi tỉ được khắc. Chính sử Đại Nam thực lục mô tả ngọc tỉ hình vuông, mỗi chiều hai tấc chín phân, dầy một tấc hai phân ba ly, cao hai tấc bốn phân. Ngọc tỉ này được dùng khi “đi tuần thú xét các địa phương và ban cấp sắc thư cho người ngoại quốc[iv].

Tháng 7  năm 1844, vua Thiệu Trị bắt đầu cho chế ấn Đại Nam hoàng đế chi tỉ  hình vuông, kích thước dài hai tấc bốn phân, dầy một tấc, cao hai tấc. Ngọc tỉ này được dùng giống như ấn Đại Nam thiên tử chi tỉphàm đi tuần thú quan sát các địa phương, và ban các sắc thư ra nước ngoài, cùng các việc lớn thì đóng ấn[v]. Ấn bắt đầu được sử dụng từ tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844). Ngày mồng Một tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), vua dụ rằng: “Trước đây được một viên ngọc màu xanh biếc, hiện trạm khắc xong thành hình ấn, đã mệnh cho kính cẩn khắc sáu chữ ‘Đại Nam hoàng đế chi tỉ’ để dùng. Nay đã báo hoàn thành, nét chữ rõ ràng tề chỉnh đủ làm vật báu truyền đời. Truyền chuẩn định phàm gặp tuần thú các tỉnh và ban sắc thư cho ngoại quốc cùng các việc lớn lập tức dùng ấn này thi hành y như ‘Đại Nam thiên tử chi tỉ’. Truyền cho Nội các đem dụ này sao lục đóng (dấu này) ban cấp cho bách quan trong ngoài đều biết[vi].

Ngoài ấn Đại Nam hoàng đế chi tỉ, vua Thiệu Trị còn cho khắc ngọc tỉ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỉ. Chính sử chép, vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), gặp tiết Vạn thọ đại khánh, có người dâng viên ngọc quý. Năm sau, vua sai người giũa thành ngọc tỉ khắc chữ Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỉ[vii].

Có thể thấy, từ khi quốc hiệu Đại Nam ra đời đã có nhiều ngọc tỉ được khắc theo quốc hiệu này. Đồng thời, nhiều bộ sử thư, bản đồ, văn tự v.v. thời Nguyễn được viết mang tên quốc hiệu Đại Nam. Tuy nhiên, tháng 3 năm 1945, vua Bảo Đại tuyên bố thành lập “Việt Nam đế quốc” thì nước ta chuyển dùng quốc hiệu cũ thời Gia Long. Mặc dù vậy, quốc hiệu Đại Nam mãi là một nét son đánh dấu thời kì hưng thịnh cuối cùng của chế độ quân chủ ở nước ta dưới thời vua Minh Mệnh.

Nguyễn Hường

 

 

 

[i] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 5, tr.282-283.

[ii] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 67, tờ 195.

[iii] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 87, tờ 109.

[iv] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 5, tr.486.

[v] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 6, tr.630.

[vi] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 28, tờ 67.

[vii] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 6, tr.1046-1047.

 

Nguyễn Hường