09:00 AM 28/04/2022  | 

Có lẽ ít ai biết rằng, đầu thế kỷ 20, điểm nghỉ mát xinh đẹp Sầm Sơn mới được biết đến và giữa thế kỷ 20, nơi đây đã được kỳ vọng sẽ trở thành “một trong những điểm nghỉ mát bên biển hàng đầu Đông Dương”(1).

Hòn Trống mái xưa và nay (ảnh sưu tầm)

Năm Tự Đức thứ 27 (1874), Trần Tiễn Thành sau khi xem xét địa thế Sầm Sơn, đã trình lên vua bản Tấu với nội dung cho biết địa thế nơi đó mạch lạc rõ ràng, hình thể cũng bằng phẳng ngay ngắn. Nơi đó hiện có sửa sang một “ngự lộ” (con đường mà nhà vua đi qua). Đề đốc Nguyễn Hanh cho biết thêm rằng: Năm ngoái ngự giá (xe kiệu của nhà vua) tới thăm nên có đường đó. Xin kính cẩn tâu trình cùng đem bản đồ tiến lên.[2]

Địa danh Sầm Sơn xuất hiện trong số ít văn bản Châu bản triều Nguyễn với nội dung về thuyền vận tải bị nạn trên biển (Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)

Trong những văn bản hành chính của triều Nguyễn hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I thì địa danh Sầm Sơn khi đó ít được nhắc đến. Ngoài văn bản trên, Sầm Sơn hầu như chỉ xuất hiện trong một vài văn bản có nội dung về thuyền vận tải bị nạn trên biển khi gặp sóng to gió lớn. Một trong số văn bản đó đề cập, vào năm Tự Đức thứ 2 (1849), thuyền công chở gạo ra đến ngoài biển Sầm Sơn thì gặp gió Đông Nam nổi lên dữ dội, phải theo gió mà lui về. May thay, họ kịp vào trong neo đậu. Hàng hoá trong thuyền đều được khô ráo, chỉ có số gạo bị nước rò rỉ làm ẩm ướt đến 2 tấc. Nhiều dân phu được điều động đưa số gạo ẩm ướt lên bờ phơi cho khô, đồng thời khám xét xem thuyền ấy bị rò rỉ, cần tu bổ thì phúc trình, chờ ngày thuyền về Kinh, sẽ do Bộ Hộ tra xét giải quyết.[3]

Một văn bản khác đề cập thiệt hại về người và của trên biển Sầm Sơn: Năm Tự Đức thứ 23 (1870), Nguyễn Hữu Điển, người tỉnh Nghệ An trình rằng ông có một chiếc thuyền, vâng lĩnh giấy phép của tỉnh đến tỉnh Hải Dương lãnh chở gạo. Ngày 21 tháng 6, thuyền rời bến đến hải phận Sầm Sơn thì bị sóng gió va đập, thuyền bị rò nước. Nguyễn Hữu Điển cùng những người trên thuyền ra sức tát nước nhưng không bớt được. Đến cuối canh 3 thì thuyền chìm hẳn. Có người xuống xuồng con, có người ôm vật nổi tùy cho sóng phiêu dạt. Sau đó 16 người về được, còn 5 người không rõ lưu lạc nơi nào. Thóc gạo trong thuyền bị chìm mất hết cả.[4]

Vương Duy Trinh, Tổng đốc Thanh Hóa dưới thời Thành Thái từng dành nhiều lời ngợi ca thắng cảnh Sầm Sơn: “Nơi này núi non kỳ tú, cây cối tốt tươi như rừng. Lên cao nhìn ngắm thấy quần đảo xa gần, khí biển phong nhiên, gió mát đong đầy tay áo, sớm chiều thuyền đánh cá ẩn hiện trong khói sóng. Quả là một thắng cảnh giữa trời biển”.[5]

Mặc dù vậy, phải đến đầu thế kỷ 20, Sầm Sơn mới được biết đến là điểm nghỉ mát xinh đẹp và nơi đây bắt đầu xuất hiện những công trình nghỉ dưỡng, có lẽ từ khoảng năm 1900, khi đường xuyên Đông Dương làm tới Thanh Hóa.

Theo thông tin trong bài viết “Sầm Sơn” của tác giả Nguyễn Phước Ưng Quả[6], không kể những người sau này, chỉ riêng ba viên quan liên tiếp cai trị Thanh Hoá sớm nhất là Moulié, Soler, Pasquier đã đua với các quan Nam triều trong những việc làm nhằm phát triển Sầm Sơn, nơi các ông biết sẽ phát triển rất nhanh. Lúc đó các điểm nghỉ mát trên cao còn chưa được biết tới.

Đến giữa thế kỷ 20, nơi đây đã là một trong những điểm nghỉ mát bên biển chính của Đông Dương. Sầm Sơn khi đó được quy hoạch gồm hai trung tâm đô thị là Sầm Sơn thượng và Sầm Sơn hạ với tổng diện tích 244 hecta.

Sầm Sơn thượng nằm trên những sườn núi ở phía nam khu nghỉ mát trông ra biển. Phía tây là những cánh đồng lúa ngút mắt. Khu vực này có 40 biệt thự (32 biệt thự một tầng và 8 biệt thự có tầng lầu), trong đó có biệt thự của Công sứ. Nhiều đường rộng cho phép đi dạo bộ hoặc đi bằng ô tô. Trung tâm được phủ xanh bằng thông, phi lao.

Tác giả Nguyễn Phước Ưng Quả cũng mô tả chi tiết về Sầm Sơn Thượng, nơi có những bãi nhỏ trong các vụng đá. Chính ở khu vực này, về phía đông của Núi Voi, có Bãi Kho báu – tên gọi sau khi người ta tìm thấy ở đây (vào năm 1934) một kho báu gồm nhiều thỏi vàng, bạc và nhiều tiền đúc năm Cảnh Hưng cũng như tiền Trung Quốc có niên đại từ thời nhà Minh và nhà Thanh.

Biệt thự của Công sứ Thanh Hóa 1920 – 1929, gần đền Độc Cước (ảnh: Việt Nam qua tuần san Indochine)

Sầm Sơn Hạ là khu dân cư cổ, từ mũi Sầm Sơn Thượng tới Cửa Lạch Triều. Khu này có 214 nhà gạch, trong đó có 22 nhà tầng, không kể nhà trong chợ, xếp thành 4 dãy phố dọc theo 2km bờ biển. Ngăn cách bãi biển với các phố là một hàng rào phi lao bảo vệ khu dân cư khỏi cát lấn. Trong khu này, người ta vạch các đường phố chính và xây dựng khách sạn, công sở, trong đó có nhà bưu điện, trạm điện báo và một nhà máy phát điện.

Sầm Sơn Hạ chìm trong bóng mát êm dịu của vô số loại cây có hương thơm, ẩn trong màn phi lao chạy dài về khu Rừng Huyền bí ở phía Bắc. Trở thành rừng bảo tồn số 494 từ năm 1928 với diện tích 175 hecta, khu rừng này luôn luôn giữ được vẻ huyền bí để lôi cuốn những người mơ mộng và cô đơn. Một con đường bộ nằm hoàn toàn dưới bóng cây chạy xuyên suốt chiều dài khu rừng. Đi xa nữa tới tận những làng mạc của Phủ Quảng Xương, người ta có thể vui thích quan sát công việc của một số cư dân địa phương như làm nước mắm, làm quạt, dệt chiếu.

Giữa thế kỷ 20, Sầm Sơn trở thành một trong những Trại hè quan trọng của Đông Dương, nơi đón nhận hàng trăm học sinh vào mỗi dịp hè hằng năm trước khi các em trở về nhà vào mùa tựu trường.

Sự phát triển nhanh chóng của Sầm Sơn khi đó cho phép người ta tin tưởng và lạc quan về tương tai của điểm nghỉ mát này. Sầm Sơn Thượng được dự đoán là sẽ nhanh chóng mở rộng ra theo hướng trở thành một trung tâm theo kiểu châu Âu trong khi Sầm Sơn Hạ ngày càng được nhiều khách nghỉ hè Việt Nam lựa chọn. Tác giả Nguyễn Phước Ưng Quả nhận định: “Khí hậu dễ chịu và trong lành, vị trí không đâu sánh được khiến Sầm Sơn trở thành một trong những điểm nghỉ mát bên biển hàng đầu của Đông Dương lúc bấy giờ”.

 


[1] Nhận định được trích từ bài “Sầm Sơn” của tác giả Nguyễn Phước Ưng Quả, cháu nội Tuy Lý vương Miên Trinh. Ông từng là Hiệu trưởng trường Quốc học Huế, đồng thời là tác giả của nhiều công trình biên khảo về văn hóa và mỹ thuật Việt Nam. Bài viết “Sầm Sơn” của ông được dịch và tập hơp trong cuốn “Việt Nam qua tuần san Indochine 1941-1944” của dịch giả Lưu Đình Tuân, Nxb Thế giới, 2019.

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tập 262, tờ 265.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tập 16, tờ 9.

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản Tự Đức, tập 234, tờ 109.

[5] Vương Duy Trinh, Thanh Hóa kỷ thắng, Vũ Ngọc Định, Nguyễn Huy Khuyến dịch, Nxb Thanh Hóa, 2021.

[6] Việt Nam qua tuần san Indochine 1941-1944, Lưu Đình Tuân tuyển dịch, Nxb Thế giới, 2019, tr. 284-291.

Hồng Nhung